Chương 16

Theo dõi đường đi của một cuốn sách xem nó hình thành như thế nào từ những dòng đầu tiên đôi khi cũng thú vị chẳng kém gì đọc một cuốn sách.

Tôi bắt đầu viết cuốn sách này từ mùa hè năm 1985, tại Sài Gòn.

Sau khi được ra tù tôi háo hức muốn vào ngay thành phố mà địa danh của nó lôi cuốn tôi từ tuổi thơ bởi những câu chuyện của người lớn, bởi cuốn Cô Gái Bình Xuyên của Hồ Dzếnh, nhưng vào năm 1976, một năm sau khi đất nước thống nhất dân hai miền vẫn chưa được tự do đi lại. Nhiều người miền Bắc muốn vào Nam phải mua giấy phép, thường là giấy giả, để đi. Tôi không thể đi theo cách ấy được. Người bình thường có bị bắt vì dùng giấy tờ giả thì cũng không đến nỗi bị giam lâu, chứ tôi mà rơi vào tay nhà cầm quyền với tội ấy thì rầy rà lắm, tôi có thể bị bắt lại. Những người tù được tha trong vụ “nhóm xét lại chống Ðảng” vẫn bị quản thúc theo lệnh miệng của Lê Ðức Thọ, của Trần Quốc Hoàn và của những cấp trên nào khác không biết. Công an địa phương nói, không giải thích, với ngón tay trỏ chỉ lên trời: “Trên lệnh như vậy! Các anh có muốn đi đâu phải xin phép”.

Nhờ sự giúp đỡ của anh Mai Lộc(1), trước công tác cùng tôi ở Việt Bắc, tôi được Cục Ðiện ảnh cấp cho một công lệnh đi vào Nam công tác. Lúc ấy đã là tháng 12 năm 1979.

Ðó là chuyến đi nhớ đời, rất vất vả từ việc xin cấp Thông hành thay cho Chứng minh nhân dân mà tôi chưa có, tới việc mua vé máy bay. Vào tới tận Chợ Bến Thành rồi tôi mới tin là mình không bị cản lại.

Cuộc sống ở Sài Gòn khác xa cuộc sống ở miền Bắc, mặc dầu Sài Gòn 1979 đã không còn giống thời nó là “hòn ngọc minh châu trong ỏ Ðông”. Chế độ tem phiếu đã được áp dụng. Bữa cơm của dân chúng đã phải độn bo bo, chẳng khác gì ở Hà Nội. Nhưng Sài Gòn vẫn sầm uất, vẫn nhộn nhịp, vẫn cố gắng để có cuộc sống riêng, chứ không sống theo chỉ thị. Thành thử nếu gọi cảnh Sài Gòn 1979 là tiêu điều thì không biết phải gọi cảnh Hà Nội bằng gì cho đúng.

Người Hà Nội tiếp tục vào Sài Gòn kìn kìn khuân ra tivi, tủ lạnh và trăm thứ bà dằn khác. Những người lính chiến thắng leo lên xe tải trở về miền Bắc với cái ba lô lép kẹp, bên ngoài lủng lẳng một con búp bê xấu như ma lem. Cán bộ Sài Gòn nhận xét rằng thị trưởng Sài Gòn, ông Võ Văn Kiệt(2), rất muốn đưa Sài Gòn lên, nhưng Trung ương kìm lại, không muốn Sài Gòn vượt Hà Nội xa quá. Dù vậy, chính sách Nhà nước khi vào tới miền Nam cũng bớt khắc nghiệt và Sài Gòn vẫn cứ là một thành phố dễ chịu.

Vì lẽ đó năm 1983, được bạn bè ở Sài Gòn khuyến khích tôi chuyển cả gia đình vào đây, nơi chính quyền địa phương đối xử với dân chúng ít khe khắt hơn so với Hà Nội gần mặt trời. Tôi biết đưa gia đình vào Sài Gòn là liều, vì chúng tôi không có và không thể có hộ khẩu. Nhiều người can tôi đừng phiêu lưu, đi như thế tôi tự đặt mình vào thế kẹt, người ta bắt nạt thế nào cũng phải chịu. Nhưng tôi đã quyết đi là đi.

May cho tôi, do ý thức được thân phận mình mà thận trọng lời ăn tiếng nói, cho nên không xảy ra chuyện gì. Trong các văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ tôi chỉ gặp gỡ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhà văn Vũ Hạnh, nhà báo Nguyễn Nguyên, mấy anh đạo diễn sống dưới chế độ cũ nay đang làm cho Xưởng phim Giải phóng: Lê Hoàng Hoa, Bùi Sơn Duân, Lê Trác, Ngô Anh Giang…Họ là những người có học, có tay nghề, nhưng lúng túng không biết dùng tài năng của mình thế nào trong hệ thống khái niệm hoàn toàn khác.

Mấy năm nay nghe nói chuyện hộ khẩu không còn khe khắt như trước, chỉ trong trường hợp đặc biệt, khi cần áp dụng với ai đó người ta mới lại giở nó ra, coi như nó vẫn tồn tại. Trong những năm 80 hộ khẩu là vấn đề rất gay go. Nghĩ lại cái thân không hộ khẩu hồi ấy phải chịu lụy thế nào mà ớn.

Nhân tiện cũng phải nói rằng cách quản lý dân bằng hộ khẩu không phải sáng kiến của những người phát-xít và những người cộng sản. Nó do Thương quân Vệ Ưởng, tướng quốc thời Tần Hiếu-công nghĩ ra(3). Tần Hiếu-công mất, thái tử lên ngôi, sai người bắt Thương quân Vệ Ưởng. Thương quân bỏ trốn. Tới một thành nọ, muốn vào nhà trọ, người nhà trọ không biết đó là Thương quân, nói: “Theo phép của Thương quân, cho người không có giấy chứng nhận (giấy chứng minh) trú ngụ thì bị liên lụy”. Thương quân thở dài mà rằng: “Than ôi! Cái tệ hại của kẻ làm pháp lệnh đến như thế ư! (Sử ký, Tư Mã Thiên). Có sách viết Thương quân bị bắt, đem xử trảm. Dân chúng căm giận Thương quân đến nỗi hồi trống hành quyết chưa dứt thì trên pháp trường chỉ còn lại một vũng máu – bách tính mỗi người một dao ào ào xông vào xẻo thịt ông mang về ăn cho hả giận.

Theo “luật” hộ khẩu của Việt Nam (mà ở mọi nước xã hội chủ nghĩa khác cũng thế), mỗi người dân phải đăng ký cư trú tại một địa phương. Tên anh ta được ghi vào một cuốn sổ gọi là sổ hộ khẩu. Con anh ta ra đời sẽ được ghi vào đó, gọi là nhập hộ khẩu. Nhà có người chết phải khai ngay với chính quyền để xin cắt hộ khẩu. Muốn thay đổi chỗ ở phải xin cắt quyền cư trú ở nơi cũ rồi xin quyền cư trú ở nơi mới, gọi là chuyển hộ khẩu. Xin đi, cắt hộ khẩu, thì dễ. Xin đến, gọi là nhập hộ khẩu, mới khó, nhất là nhập vào những thành phố lớn. Cán bộ vào ở hẳn Sài Gòn công tác dăm bảy năm rồi chưa được nhập hộ khẩu là chuyện thường. Vợ tôi là một trường hợp như thế. Làm việc tại Sài Gòn từ 1983 cho tới 1991, về hưu rồi vẫn chưa được nhập hộ khẩu. Mà đây không phải rắc rối do ngành công an. Còn một cơ quan khó hiểu nữa, chắc hẳn bắt chước mô hình Trung Quốc, tên là Ban tổ chức chính quyền. Nó cũng làm cái việc duyệt hộ khẩu cho cán bộ.

May mắn làm sao, ngay trong lần đầu tới Sài Gòn tôi lại làm quen được với một anh công an trẻ có máu văn chương và hơn thế, có quan hệ thân tình với các vị lãnh đạo Công an thành phố. Biết hoàn cảnh tôi khó khăn, anh bạn nhường cho tôi một căn hộ hai phòng. Anh có vài chỗ như thế trong thành phố.

Ðó là chuyện sau. Hồi mới đưa vợ con vào tôi ở nhờ lầu hai nhà biên kịch Thái Hồng tại số nhà 65 đường Nghĩa Thục, quận 5.

Thái Hồng trước cùng làm báo ảnh Việt Nam với tôi. Chúng tôi có một tình bạn kỳ cục, cãi nhau một trận rất dữ rồi mới thân nhau. Là cán bộ miền Nam tập kết, đến năm 1965 Thái Hồng được chọn đi B. Khi cái gọi là cuộc đấu tranh giữa hai đường lối nổ ra, Thái Hồng cũng có ý kiến ngược như tôi, cũng được chụp một cái mũ xét lại. May cho anh, nó không phải loại mũ lớn, cho nên việc xét cho đi B tuy có chật vật, rồi cũng qua. Hồi ấy phàm ai là cán bộ tập kết đều nhao lên đòi về Nam. Không khí ngột ngạt và cuộc sống khó khăn ở miền Bắc làm người ta ngấy đến tận cổ. Trong hoàn cảnh chiến trường, chuyện xét đi xét lại không phải chuyện quan trọng, nhưng anh cũng vẫn cảm thấy bị chú ý. Ban tổ chức Trung ương đã dặn, người ta phải cảnh giác với anh, (bọn xét lại là dễ theo địch lắm). Nhờ được “bảo vệ”, không có dịp cọ xát với địch ở cự ly gần để có thể bị bắt, Thái Hồng về tới Sài Gòn hoàn toàn lành lặn, không một vết xây xát.

Tin tôi bị bắt đến với Thái Hồng khi anh đang ở trong sình lầy Ðồng Tháp Mười. Anh hiểu tôi, không tin tôi làm điều gì quấy, anh cũng hiểu đám lãnh đạo Trung ương, anh xót xa cho tôi. Chính anh cũng sợ sẽ bị một viên đạn từ phía sau lưng. May cho anh, chuyện đó đã không xảy ra. Gặp lại nhau giữa Sài Gòn giải phóng chúng tôi mừng hết lớn, như người sống sót qua trận dịch.

Nơi ở mới của tôi nằm trên lầu 6 một cao ốc gần chợ Bến Thành có tên là cư xá Nguyễn Thái Bình. Cư xá đầy ắp dân, ồn ào như tổ ong bò vẽ. Nó vốn là một khách sạn vừa mới xây xong chưa kịp khai trương thì chủ đã bỏ chạy ra nước ngoài, tháng 4 năm 1975.

Anh công an nhà báo giới thiệu tôi với anh công an hộ khẩu, còn gọi là công an khu vực, một người Nghệ An hiền lành, vui tính, dáng thấp tè, tròn như hạt mít. Dưới quyền cai quản của anh công an này là cái cư xá nói trên. Anh sẵn sàng giúp đỡ mọi người chút ít để nhận quà nhiều nhiều. Những người ở chui hồ hởi biếu xén anh những món quà, theo ngôn ngữ pháp lý Việt Nam là trên mức tình cảm. Vợ tôi, với tư cách bộ trưởng Bộ Ngoại giao gia đình, rất biết cách thu xếp để giữ một quan hệ tốt đẹp với anh công an khu vực, nhờ đó mà anh quên đi cho chúng tôi sự ở chui. Vả lại, chẳng riêng gia đình tôi, trong cư xá còn khối người ở chui khác.

Lòng tốt có cái giá của nó. Nhờ lòng biết ơn của dân chúng ở chui chẳng mấy chốc anh công an khu vực đã làm chủ một ngôi nhà nho nhỏ giữa trung tâm thành phố. Anh đưa được cả nhà vào Sài Gòn, mở một tiệm chơi bi-da cho cả người lớn lẫn trẻ con, thu nhập nghe nói cũng khá.

Ðể tỏ lòng cảm ơn anh công an nhà báo đã vì duyên nợ văn chương mà cho tôi một chỗ trú ngụ, tôi trần lực giúp anh viết vài kịch bản điện ảnh, mấy truyện ngắn hình sự, tất cả đều tầm phào trừ một tiểu thuyết về tên tướng cướp nổi tiếng một thời được xuất bản với số lượng lớn và bán chạy. Anh được vào Hội Nhà văn, được ông bộ trưởng mời cơm và vỗ vai.

Thế là cuối cùng trong cuộc sống tha hương tôi đã có điều kiện tạo ra một góc riêng cho cái gia đình tội nghiệp của tôi. Vợ tôi mừng chảy nước mắt. Lầu 6 tuy cao thật, bù lại nó rất mát. Tôi chui vào phòng trong, đóng cửa lại, cặm cụi mổ cò trên cái máy chữ Olympia mới tinh mà vợ tôi mua cho sau nhiều ngày chống cự kịch liệt với nỗi tiếc rẻ những đồng tiền đầu tiên dành dụm được.

Vợ tôi rụt rè khuyến khích tôi thực hiện ý định. Rụt rè vì vợ tôi vẫn chưa hết sợ tôi sẽ bị bắt đi lần nữa. Bài học mà chúng tôi thu được qua vụ bắt bớ năm 1967 là ở Việt Nam con người không có quyền gì hết.

Tháng 10 năm 1981 Hoàng Minh Chính bị các đồng chí của anh bắt lần thứ hai. Anh bị bắt vì cả gan đòi “khởi tố công dân Lê Ðức Thọ phạm tội lạm dụng chức quyền hãm hại người vô tội, chà đạp những quyền tự do dân chủ của nhân dân”.

Theo lệnh của Lê Ðức Thọ, ỷy ban nhân dân tỉnh Hải Hưng ra quyết định số 272 tập trung cải tạo đối với Hoàng Minh Chính. Quyết định này ra sau khi Hoàng Minh Chính đã bị bắt rồi, với ngày tháng đặt ngược.

Ai cũng biết Hoàng Minh Chính mang hộ khẩu Hà Nội, như vậy người ký quyết định phải là chủ tịch Hà Nội mới đúng. Lê Ðức Thọ lo bác sĩ Trần Duy Hưng cứng đầu không chịu ký một lệnh bắt lăng nhăng chăng? Hay Thọ nghĩ ở Việt Nam không có việc gì không thể làm được? Thì đấy, Thọ có ở trong quân ngũ ngày nào đâu, cứ khơi khơi ứng cử và khơi khơi trúng cử đại biểu đảng trong quân đội mỗi lần Ðại hội Ðảng đấy thôi.

Thanh gươm Damocles vẫn treo lơ lửng trên đầu những tên tù”xử lý nội bộ”.

Tôi biết con mắt đa nghi của nhà cầm quyền chưa rời khỏi tôi chừng nào tôi chưa làm cho họ tin được rằng tôi đã sợ, tôi xa lánh chính trị. Họ đã được thấy tôi đúng như họ muốn. Tôi chỉ đến với những tổ hợp sản xuất, những nhà buôn, tôi lao vào kiếm tiền. Chế tạo cái mặt nạ không khó. Chỉ cần phải giữ mình, không để cho màn kịch thành sự thật.

Cha tôi cũng được phép vào chơi với con cháu trong Nam. Trước chỉ có mình mẹ tôi được phép thôi. Xin nhắc lại thêm một lần rằng lệnh cấm tự do đi lại đối với những người dính dáng tới vụ “nhóm xét lại chống Ðảng” chỉ là lệnh miệng, chúng tôi chỉ được nghe phổ biến chứ không được đọc. Có nghĩa là bây giờ có nói ra chuyện này, nhà cầm quyền vẫn có thể chối bay chối biến, có khi còn vu cho tôi dựng chuyện cũng nên. Anh Trần Ðĩnh, biên tập viên báo Nhân dân, tuy không bị bắt, nhưng bị buộc về hưu non vì có quan điểm xét lại, thậm chí không được phép bay vào Sài Gòn để đưa tang cha.

Chúng tôi chỉ bắt đầu thấy dễ thở khi ở Liên Xô dâng lên làn sóng glasnost (công khai) cùng với chủ trương perestroika (xây dựng lại) do tổng bí thư Mikhail Gorbachov(4) khởi xướng. Nó trùng hợp với thời kỳ hậu Lê Duẩn, thời kỳ cuộc tranh chấp ngôi vị tổng bí thư giữa ủy viên Bộ Chính trị Lê Ðức Thọ và quyền tổng bí thư Trường Chinh diễn ra quyết liệt trước Ðại hội VI (12/1986).

Lê Ðức Thọ, người thiết kế kiêm đạo diễn chính của Ðại hội VI, hay Ðại Hội của Ông Sáu, như người ta giễu cợt, tin tưởng ở chiến thắng lắm. Lúc có mặt ở tỉnh này, lúc đi thăm huyện kia, con người kém mười lăm phút đầy tổng bí thư ân cần thăm hỏi đồng bào, đồng chí, quan tâm tới mọi mặt đời sống của họ, không có gì giống cái ông Sáu Búa đầu ngành chuyên chính vô sản cả.

Ngay từ giai đoạn chuẩn bị Ðại hội đã thấp thoáng những dấu hiệu báo trước một sự cứng đầu đối với mưu toan của Thọ. Những cuộc bầu đại biểu đi dự Ðại hội diễn ra trong không khí căng thẳng.

Sự kiện lớn nhất trong thời kỳ này là Ðại hội Ðảng toàn quân (9.1986), trong đó đại tướng Võ Nguyên Giáp và đại tướng Lê Trọng Tấn được số phiếu cao nhất, còn người nắm thực quyền trong quân đội là đại tướng Văn Tiến Dũng lại không đủ số phiếu để trở thành đại biểu chính thức trong đoàn đại biểu đông tới 72 người. Các tướng khác mà ai cũng biết thuộc cánh Duẩn-Thọ như Chu Huy Mân, Ðặng Vũ Hiệp, Lê Ngọc Hiền cũng chung số phận.

Thất bại của Lê Ðức Thọ chứng tỏ Thọ đã hết thời. Vũ khí vô địch trước đây của Thọ là Ban tổ chức Trung ương không còn khống chế được Ðảng, kể cả với quỷ kế “kiểm tra tư cách đại biểu”, để loại ra ngoài tất cả những ai ngang bướng, để chỉ cho người cùng phe lọt vào Ðại hội.

Giận dữ và hổ thẹn thấy mưu đồ chiếm ngôi vị cao nhất không thành, theo cách không ăn thì đạp đổ, Lê Ðức Thọ nằng nặc đòi quyền tổng bí thư Trường Chinh phải từ bỏ ý định tranh cử, viện cớ cả hai đã cao tuổi, không nên tham gia triều chính nữa. Nếu Trường Chinh ứng cử, thất bại của Thọ sẽ không chỉ đáng buồn mà là bi kịch. Nó sẽ là mối nhục không sao gột sạch của con người uy phong lẫm lẫm một thời.

Tuân lệnh Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng năm lần bẩy lượt đến tận nhà Trường Chinh, có hôm từ tinh mơ, thuyết phục ông thôi không tranh cử nữa. “Nếu anh cứ tranh cử thì sẽ nổ ra xung đột nội bộ, Ðảng ta tan nát mất”, nước mắt nước mũi giàn giụa Phạm Văn Ðồng vật nài. Cuối cùng Trường Chinh đồng ý. Ông hiểu câu nói của Phạm Văn Ðồng là lời nhắn gửi nghiêm túc của Lê Ðức Thọ. Không phải vì lo Ðảng tan nát mà Trường Chinh đồng ý, ông lo nếu không nghe lời Thọ thì chính ông sẽ tan nát. Con người như Lê Ðức Thọ sẵn sàng làm tất cả khi cay cú.

Ðại hội VI kết thúc bằng sự lên ngôi của một nhân vật không mấy tiếng tăm là Nguyễn Văn Linh, bí danh Mười Cúc. Câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine về hai anh nông dân và con sò được thiên hạ nhắc tới nhiều trong thời kỳ này.

Cả Lê Ðức Thọ lẫn Trường Chinh hậm hực lui vào hậu trường, với chức danh cố vấn. Vị thủ tướng thâm niên cao nhất thế giới Phạm Văn Ðồng cũng rút khỏi chính trường, nhưng không hậm hực. Ông là người biết điều, ông không bao giờ dám tơ tưởng vị trí cây vĩ cầm thứ nhất trong dàn nhạc.

Phạm Văn Ðồng vốn lành, người ta đưa ông vào chính trường thì ông vào, người ta đưa ông ra thì ông ra. Trong cương vị thủ tướng, ông làm theo lời chỉ bảo của Bộ Chính trị, dù đứng đầu Bộ Chính trị là Trường Chinh hay Lê Duẩn, rồi phân bua với mọi người: “Tôi là thủ tướng lâu nhất thế giới, cũng là thủ tướng khổ nhất thế giới. Làm thủ tướng thật, tôi chẳng có quyền gì hết. Bộ trưởng hay thứ trưởng có phải do tôi chọn đâu, họ làm không tốt thì không phải lỗi ở tôi”. Ông Ung Văn Khiêm(5) bình luận: “Anh chàng nầy có một cái tội, mà tội rất lớn: đó là biết mình không có quyền làm bất cứ cái chi không có phép Ba Duẩn với Sáu Thọ mà lại không dám từ chức.” Ông Trần Văn Giàu(6) hóm hỉnh: “Cái đít con người ta có trí nhớ. Nó nhớ cái ghế”.

Tôi được nghe Phạm Văn Ðồng nói chuyện nhiều lần. Ông tỏ ra là người hiểu nhiều biết rộng, nhưng tôi ít thấy ai nói chuyện vô duyên như ông. Trong những diễn văn lòng thòng nhai đi nhai lại những cụm từ nhàu nát bao giờ cũng rộ lên những tràng cười tự hưởng ứng không đúng lúc và đúng chỗ, những tràng pháo tay tự vỗ, kêu gọi mọi người vỗ theo. Sau khi trở thành cố vấn, Phạm Văn Ðồng vẫn còn mắc bệnh thích đăng đàn diễn thuyết, với những “huấn thị” chẳng cái gì ăn nhập với cái gì. Sau khi nghe một bài “huấn thị” như thế trong cuộc họp trí thức thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1986 hay 1987, Mai Lộc vốn rất sùng kính Phạm Văn Ðồng buồn rầu nói với tôi “Thần tượng của tôi sụp đổ rồi. Không ai mời, ông ta cứ đòi đến, leo lên bục mà ba hoa, chẳng ai buồn nghe mà vẫn cứ nói”.

Sau những năm ở tù, tôi càng chán ngán những nhà lãnh đạo đất nước. Tôi cho rằng họ không còn khả năng hiểu nhân dân muốn gì.

Tôi cũng không hiểu Hoàng Minh Chính. Một năm trước Ðại hội V (1982), anh vẫn còn kiên trì thuyết phục tôi viết kiến nghị gửi Ðại hội: “Bây giờ là lúc cậu cần đem sức mạnh của ngòi bút vào việc đấu tranh cho dân chủ.Viết thư cho Ðại hội, đánh máy thành nhiều bản gửi tới tận từng khối đại biểu, đánh thức họ, đòi họ phải đứng lên tranh đấu”. Tôi không nghe anh: “Những gì anh và tôi muốn nói đồng bào biết cả rồi, có điều trong hoàn cảnh hiện nay người ta hoặc sợ không dám nói, hoặc chán không muốn nói mà thôi. Ðánh đuốc lên giữa trưa nắng, anh muốn soi giúp người ta cái gì?”

Từ khi ra tù Hoàng Minh Chính liên tục viết hết kiến nghị này đến kiến nghị khác đòi Ðảng xem xét lại vụ án. Ban lãnh đạo Ðảng căm ghét anh, quên mất rằng bằng những kiến nghị ấy Hoàng Minh Chính thể hiện một niềm tin lỗi thời ở Ðảng. Ðể anh khỏi quấy rầy, Lê Ðức Thọ ký một nhát, cho Hoàng Minh Chính đi nằm nhà đá.

Ý định viết một cuốn sách về vụ án và những năm tháng trong tù được tôi ấp ủ từ lâu – ngay từ những ngày đầu tiên trong xà lim Hỏa Lò. Bản thân vụ án, theo tôi nhận định lúc ấy, và càng về sau càng tin chắc mình đúng, là một mưu mô bẩn thỉu của Lê Ðức Thọ. Thời gian cho tôi sự bình tĩnh, cho tôi khoảng cách cần thiết để quan sát, để tầm nhìn được bao quát hơn. Trong những ngày khốn khó của đời mình tôi cố gắng bình thản tách khỏi cái tôi nạn nhân để quan sát môi trường trong đó tôi bị đặt vào, suy ngẫm về những sự kiện. Không ai có thể nói thay chúng tôi về những năm đen tối. Mà cần phải nói về chúng.

Tôi phải bắt đầu cuốn sách kẻo quá muộn. Trí nhớ có thể phản bội nếu không đánh động nó, bắt nó phải tỉnh thức. Vả lại sự theo dõi chúng tôi đã lỏng lẻo hơn trước. Cái sự tôi ngồi nhà cặm cụi dịch thuê, viết thuê không còn gây ra chú ý. Thậm chí người ta còn cho phép tôi viết với điều kiện ký tên khác.

Nhớ lại cuối thập niên 70, khi tôi vừa được trả tự do, đi đâu một bước cũng phải thận trọng, nói một câu là phải ngó trước ngó sau và không chỉ uốn lưỡi bảy lần – không khí nghi kỵ, mối đe dọa thường trực đè nặng lên tôi. Mi Lan, con gái đầu của tôi, mặc dầu đỗ thủ khoa trong kỳ thi tốt nghiệp cũng không được đi nước ngoài tu nghiệp theo chính sách, là chuyện đương nhiên đối với các sinh viên khác, chỉ vì tội cha có tiền án tiền sự.

Cái tốt nhất mà Ðảng làm được trong giai đoạn hậu Duẩn – Thọ là thả Hoàng Minh Chính ra khỏi nhà tù. Nhưng đó đã là thời kỳ tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nắm quyền. Nếu không có sự quyết đoán của ông thì không biết đến bao giờ các vị thực hành chuyên chính vô sản mới chịu thả Hoàng Minh Chính. Vào thời kỳ đó Nguyễn Văn Linh nổi bật như một ngôi sao sáng. Người ta tin rằng sau khi bị Lê Ðức Thọ gạt khỏi Bộ Chính trị năm 1982, ông thấm đòn, và trên cương vị tổng bí thư, ông sẽ đổi mới thật.

Nguyễn Văn Linh, theo cha tôi nhận xét, là người hiền lành, chân thật. Ông cũng đã trải qua nhà tù đế quốc, có tinh thần cách mạng kiên định, là người thực hiện chứ không phải người sáng tạo.

Dưới thời tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trên văn đàn Việt Nam đã xuất hiện một số tác phẩm dám nói lên sự thật, tuy không nhiều. Tiếc rằng sự thèm khát được nói lên sự thật bị đè nén lâu ngày đã át đi nỗ lực tìm tòi bút pháp mới, phong cách mới. Những phóng sự, bút ký đại loại như Cái Ðêm Hôm ấy Ðêm Gì của Phùng Gia Lộc vừa ra đời lập tức được ca ngợi như một tác phẩm văn học có giá trị trong thời đổi mới.

Chính là nhờ có Nguyễn Văn Linh mà các văn nghệ sĩ bị buộc tội oan trong vụ Nhân văn – Giai phẩm mới được phép xuất hiện trở lại với người đọc. Không có Nguyễn Văn Linh thì Dương Thu Hương(7) không thể xuất bản được Bên Kia Bờ ọo Vọng, Thiên Ðường Mù, cho dù sau đó chị có bị trấn áp, bị bỏ tù rồi được thả ra, được xin lỗi, sau này còn được cầm hộ chiếu đi Paris. Vào thời Duẩn – Thọ chắc chắn Dương Thu Hương còn nằm xà lim dài dài trước khi người đọc được cầm trong tay những cuốn sách của chị.

Tiếc thay, sau khi phấn khởi thổi bùng lên làn gió đổi mới, chính Nguyễn Văn Linh lại bị cảm lạnh bởi chính làn gió ấy, ông ân hận đã kêu gọi văn nghệ sĩ tự cởi trói, dũng cảm nói lên sự thật. Sau sự cởi trói do ông khởi xướng đã ra đời hàng loạt bài báo, cuốn sách nói về những nỗi bất công kéo dài năm này qua năm khác, tất nhiên dưới sự lãnh đạo của Ðảng, mặc dầu người viết không nói thẳng ra.

Ði vào lối mòn của các đời tổng bí thư trước, Nguyễn Văn Linh đồng nhất mình với Ðảng, cho nên khi Ðảng bị người ta vạch xấu là ông chạnh lòng. Ðã thế ông lại còn bị các đồng chí bảo thủ sợ hãi trước sự sụp đổ của Ðông Âu cộng sản kiên quyết chống lại đường lối đổi mới của ông. Họ trách móc ông, họ phê phán ông hữu khuynh. Nguyễn Văn Linh đùng đùng quyết định: thôi, không đổi mới nữa.

Dù sao mặc lòng, so với thời kỳ Duẩn-Thọ, hoặc thời kỳ Trường Chinh quyền tổng bí thư, mức độ tự do tinh thần mà nhân dân được hưởng trong thời đổi mới có thể nói một trời một vực. Quần chúng thất vọng, nhưng họ sẽ ghi nhớ những gì Nguyễn Văn Linh đã làm cho họ trong cơn bốc đồng. Chính trong cơn bốc đồng ông đã trở thành người của dân chúng, một hạnh phúc không dễ gì ông được hưởng.

Chúng tôi được hưởng status quo(8) trong đời sống chính trị, nghĩa là chúng tôi có tội, chúng tôi được Ðảng khoan hồng cho được ở nhà với vợ con, nhưng chúng tôi không được làm gì hết.

Một số ít người trong vụ “nhóm xét lại chống Ðảng” thậm chí còn được trên giải quyết cho hưởng lương hưu trí. Bằng cách bố thí cho một chút quyền lợi vật chất, ban lãnhđạo mới muốn chấm dứt những khiếu nại liên tục nhiều năm làm họ nhức đầu. Trước khi tôi đi Nga, lần đầu tiên sau hơn ba mươi năm không bước chân ra nước ngoài, một anh cán bộ Ban tổ chức Trung ương đã vào Sài Gòn gặp bác sĩ Phan Thế Vấn và tôi để phổ biến cho chúng tôi quyết định của Ðảng. Anh Vấn thay mặt hai chúng tôi nói: “Quỹ lương hưu là trích từ lương của những người làm việc mà thành, mà chúng tôi thì đã bị tước quyền được làm việc từ nhiều năm. Không làm việc mà hưởng lương lấy từ túi những người làm việc là bất lương, người tự trọng không thể nhận một đồng lương như thế”. Việc chúng tôi từ chối ân huệ của Ðảng làm cho chị Vấn và vợ tôi lo lắng. Nhưng sau đó không có chuyện gì xảy ra. Thời này đã khác thời trước.

Mọi người quan tâm tới vận mệnh đất nước đều biết rằng triều đại Lê Duẩn – Lê Ðức Thọ là triều đại thiết lập và khẳng định chuyên chính vô sản, hay nói cho đúng hơn, chuyên chính vô sản lưu manh(9), theo định nghĩa của chính Mác về giai cấp. Ðó là triều đại của sự áp đặt trắng trợn ý muốn ngông cuồng của Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ lên mọi mặt đời sống đất nước, từ việc bắt bớ công dân không cần xét xử, việc chia lại các tỉnh một cách xuẩn ngốc, lấy huyện làm đơn vị kinh tế cơ sở, cho tới việc đưa quân đi chiếm đóng nước láng giềng Kampuchea. Áp đặt là phép trị dân mang tính chiến lược. Không áp đặt được thì khủng bố.

Việc nhà nước đối xử với công dân không cần có luật pháp, hoặc dùng luật pháp lờ mờ để giải thích nó theo ngụy biện là đặc điểm chung của các nước xã hội chủ nghĩa. ê Việt Nam tình hình không có gì tốt hơn.

Trước những hành động tùy tiện của chính quyền nhiều nhà tư pháp đã đề đạt với Ðảng xây dựng một nền tư pháp đàng hoàng. Lãnh đạo Ðảng thẳng tay gạt bỏ những đề nghị đúng đắn của họ. Ðảng không cần đến thứ pháp lý tư sản. Luật gia Trần Công Tường, mà tôi được biết từ năm 1946, nói với tôi: “Không hiểu sao mấy chả sợ pháp luật đến thế? Pháp luật làm ra là để bảo vệ chính mấy chả mà.” Tôi nghĩ ông thừa hiểu tại sao. Pháp luật, nếu nó được tôn trọng, sẽ tước bỏ sự tùy tiện, sẽ bó tay bọn độc tài. Pháp luật không thể là cái gì hơn một vật trang sức. Với một Ðảng đặt mình cao hơn nhân dân, thì mọi việc làm của các lãnh tụ Ðảng phải được coi là hiển nhiên đúng.

Trong thực hành tư pháp những nhà lãnh đạo i tờ chủ trương không cần có chứng cứ. Chỉ cần lời khai là đủ. Nguyên tắc trọng chứng hơn trọng cung trong công tác xét xử mặc nhiên bị coi là nguyên tắc tư sản. Bị phản bác, họ lui bước, bắt các nhà tư pháp phải coi chứng hay cung cũng là chứng cả. Ông Vũ Văn Mục, biện lý thời thuộc Pháp, khi kể cho tôi nghe một số vụ án oan cũng như cách xử án của các quan tòa cách mạng chưa hề qua trường lớp chuyên môn, đã kêu lên: “Xử án mà cung với chứng coi ngang nhau thì người dân thấp cổ bé họng sống làm sao nổi hở trời? Quan trên bảo tôi: “không có chứng thì dựa vào cung mà xử, nghĩ ngợi lôi thôi làm gì!” Khinh mạng dân đến thế là cùng. Tôi đem chuyện này than phiền với một ông rất to thì ông ta còn dạy tôi: “Các anh học luật thời trước là lôi thôi lắm! Phải nhớ rằng tòa án của ta là tòa án chuyên chính vô sản, vì lợi ích của giai cấp vô sản và nhân dân lao động mà làm. Với bọn phản cách mạng các anh cứ theo đường lối chính sách của đảng mà xử”. ê Hỏa Lò, nghe chuyện vụ án của Thành và những vụ án khác mà anh kể cho tôi nghe, tôi càng hiểu thêm cái chuyện chứng và cung này.

Trong những năm bị giam tôi đã nhiều phen rà soát lại những việc làm của mình xem mình có lỡ phạm tội gì mà do ngu dốt không biết là tội không, nhưng vô ích – tôi chẳng tìm ra một cái tội nào hết, tôi muốn nói một cái tội mà Lê Ðức Thọ có thể đưa ra chứng cứ. Cho dù một chứng cứ nhỏ. Thành ra họ cứ một mực ép tôi nhận một cái gì đó, xét cho cùng là muốn nặn ra một cái cung để mà buộc tội.

Sự khăng khăng khẳng định việc làm sai trái của những triều đại trước là đúng, là hợp lý, không chứng tỏ ý muốn đổi mới, mà chứng tỏ ý muốn duy trì trật tự cũ. Một sự kế thừa hủ lậu và vị kỷ. Mà sự sai trái cho tới ngày đó đã rành rành. Trong sự ngoan cố này không khó khăn gì để nhận ra bóng dáng những tay chân trung thành từng chịu ơn mưa móc của triều đình(10).

Thời gian trôi. Ðã qua đi nhiều cơ hội để giải quyết vụ án không tiền khoáng hậu và không lối thoát ra, nhưng những nhà lãnh đạo mới cứ một mực phớt lờ.

Nhưng lịch sử có trí nhớ. Nếu lịch sử đánh mất trí nhớ, nó không còn là lịch sử. Một chế độ muốn coi là mới, hoặc đổi mới, nghĩa là khác trước, thì nó phải thanh toán sòng phẳng với quá khứ để bước vào tương lai. Nhân dân đòi chính quyền đổi mới phải giải quyết những án oan tồn đọng, không phải nhằm thanh toán món nợ cũ, mà để khẳng định thêm một lần rằng từ nay những sự việc tương tự sẽ không bao giờ được lặp lại.

Chúng tôi hi vọng tình hình mới sẽ buộc chính quyền phải tự đổi mới, tự nâng mình lên ngang tầm những nhiệm vụ lớn lao đang đòi được giải quyết, trước hết là nhiệm vụ phục hồi nền kinh tế tan hoang trong chiến tranh. Sau khi đất nước đã thống nhất, đây chính là lúc tốt nhất để thủ tiêu nền chuyên chế, xây dựng một Nhà nước công dân, một xã hội dân chủ pháp trị.

Tiếc thay, người ta đã chẳng làm gì theo hướng đó.

Bạn bè trong nước viết thư cho tôi biết ông Ðỗ Mười(11), đương kim tổng bí thư, cũng như ông tổng bí thư tiền nhiệm, tuyên bố Ðảng không thay đổi nhận định đối với vụ “nhóm xét lại chống Ðảng”.

Mà đó không phải là ai khác cái ông Ðỗ Mười năm xưa, khi xảy ra vụ nhóm xét lại hiện đại chống Ðảng đã sửng sốt kêu lên: “Tại sao lại bắt anh Huỳnh, anh Giang? Những người cách mạng như thế sao có thể đổ cho người ta chống Ðảng được? Bậy quá! Bậy quá!” Người cháu ruột của ông kể cho tôi nghe như vậy ít ngày trước khi tôi bị bắt. Anh là người thật thà, không thích chuyện làm quà. Mà anh đơm đặt làm gì? Ông Ðỗ Mười hồi ấy chẳng là cái gì hết. Mọi người đều biết ông đang dưỡng bệnh. Mà bệnh của ông là bệnh tâm thần, nói nôm là điên, không ai dám nói chắc ông sẽ khỏi. May, ông không la hét om xòm, không đánh trẻ con hay chọc ghẹo đàn bà, không hoa chân múa tay lảm nhảm, chỉ trèo tường leo cây, lúc tỉnh lúc mê, tha thẩn trước cửa nhà. Ông không lạ gì cha tôi và ông Ðặng Kim Giang. Họ cùng hoạt động với nhau tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ trong thời bí mật. Trong câu chuyện với những đồng chí cũ, khi nhắc tới Ðỗ Mười, cha tôi bao giờ cũng tỏ ra quý mến ông, khen ông kiên định cách mạng, không sợ gian khổ, tính nết lại thực thà, tiếc cho ông không được học hành nhiều, do đó không cáng đáng nổi những nhiệm vụ cần đến kiến thức.

Tôi không được biết ông, chỉ nghe tiếng ông. Trong hàng ngũ những nhà cách mạng hoạt động trước 1945, ông là người hiền lành, ít nói, chịu nghe lời bề trên. Ông cũng nổi tiếng kiên quyết, đã nói là làm. Với Ðảng, ông có công trạng. Chính ông đã kiên quyết đập tan sự “trỗi dậy” của giai cấp tư sản miền Bắc trong cuộc cải tạo công thương nghiệp những năm 1959-1960. Cũng ông đã phá tan nền công nghiệp nhẹ miền Nam trong cuộc cải tạo tư sản sau chiến thắng 1975.

Chỉ có thể giải thích sự thay đổi thái độ của Ðỗ Mười đối với vụ”nhóm xét lại chống Ðảng bằng cách lập luận rằng hồi ấy ông nói thế vì ông không tỉnh trí, còn bây giờ ông khỏi rồi, ông đã sáng suốt, cho nên ông nghĩ khác.

Những người gần ông nói rằng do ít học nên ông thường làm theo những gì cấp dưới soạn sẵn. Ðám đàn em ông lại không có thiện chí muốn lập lại lẽ công bằng cho các đồng chí bị oan. Những Ðào Duy Tùng, Nguyễn Ðức Bình, Trần Trọng Tân mà Ðỗ Mười dựa vào trước kia đã mao-ít, nay còn mao-ít hơn nữa trong sự sáng tạo ra một chủ nghĩa Mác kỳ cục, đầy tính chất ngụy biện, chẳng có gì giống chủ nghĩa Mác kinh viện. Mọi việc làm của họ chỉ nhằm bảo vệ vị trí lãnh đạo độc tôn của Ðảng, hay là của họ thì cũng thế. Cái gọi là đường lối xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng kinh tế thị trường có điều tiết, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ra đời chính là trong thời kỳ này.

Cha tôi đã nhận định sai về con người Ðỗ Mười. Ông chỉ không sai khi nói rằng trước Cách mạng Tháng Tám Ðỗ Mười làm nghề hoạn lợn chứ không phải phu hồ, thợ sơn gì sất như được ghi trong tiểu sử chính thức: “Nói mọi nghề đều quý thì làm hoạn lợn cũng quý chứ sao, xưng công nhân làm quái gì! Người không biết thì thôi, người biết họ cười cho mất mặt. Thế không phải khôn, mà dại”. Các nhà cách mạng biết Ðỗ Mười cũng xác nhận nghề hoạn lợn của ông, chỉ nói thêm rằng ông hoạn vụng, có lần hoạn chết lợn của người ta, bị đuổi chạy chí chết. Kể ra ông dại thật. Nói dối chỉ làm ông mất giá trị. Lịch sử Việt Nam không thiếu những nhân vật xuất thân từ những thành phần không danh giá. Một triều đại vẻ vang như nhà Trần khởi nghiệp từ những người dân chài, có sao đâu.

Nhưng thôi, tôi lại đi lan man khỏi điều muốn nói mất rồi.

Cũng dưới thời Ðỗ Mười tên xét lại hiện đại Hoàng Minh Chính được thả ra sau lần giam giữ cuối cùng vẫn bị tiếp tục hành hạ về tinh thần trong cuộc sống quản thúc. Không hề có một thiện ý lật lại trang sử để xem xét vụ án, cũng không có một biệt đãi nào, dù là biệt đãi chui, dành cho những người bị giam giữ trái phép nhiều năm, để đền bù phần nào những đau khổ và thiệt thòi mà họ và thân nhân đã phải chịu đựng trong những năm đó(12).

Thời gian là thầy thuốc tốt. Nó giúp tôi quên và đôi lúc tôi cũng quên được những ngày đen tối. Chỉ có trí nhớ vô thức là bướng bỉnh. Ðêm đêm thỉnh thoảng tôi lại nằm mơ thấy mình ở trong trại giam. Tỉnh dậy, tôi bàng hoàng, toát mồ hôi lạnh. Mà đã quá nhiều năm trôi qua kể từ ngày tôi rời khỏi địa ngục. Tôi đã tưởng những giấc mơ khủng khiếp sẽ phải mất hẳn vào một lúc nào đó, nhưng nhà tù Việt Nam vẫn dai dẳng bám lấy tôi cho tới tận bây giờ, ngay khi tôi đang ở giữa Paris, Moskva hay Varsava.

Cha tôi hài lòng với ý định của tôi viết cuốn hồi ký. Trên cái gác vợ chồng tôi mới kiếm được trong Sài Gòn, cha tôi cởi trần trùng trục, cái quạt nan trong tay, ngồi bệt trên sàn gạch men lần giở những trang bản thảo đầu tiên.

Năm 1985, sức khỏe cha tôi đã sút kém lắm. Những năm biệt giam và lưu đầy cộng với nỗi đau tinh thần làm ông kiệt sức. Mắt ông mờ hẳn, đọc rất chóng mỏi. Những trang bản thảo lem nhem, đầy những đoạn sửa chồng chéo nhau, làm ông mệt. Nhưng cha tôi đọc chăm chú, thỉnh thoảng còn vẫy tôi đến bên để nói vài nhận xét về chữ nghĩa, nhắc tôi sửa một đoạn mà theo ông là thiếu khách quan, không công bằng hoặc chưa được chính xác. Tối tối cha tôi thủ thỉ kể cho tôi nghe một số sự kiện trong lịch sử cách mạng mà ít người biết, thuộc loại cơ mật của Ðảng. Một số sự kiện đã được dùng trong cuốn này.

Với Ðảng của ông, cha tôi đoạn tuyệt hoàn toàn. Sở dĩ ông có được thái độ như vậy là vì trước nay ông không bao giờ coi Ðảng là vật tổ, là totem. Ông coi Ðảng chỉ là công cụ, là phương tiện để những người cách mạng thực hiện sứ mạng của mình. Ông không kêu than, hờn giận, không ngoái nhìn quá khứ để tiếc nuối cuộc đời phí phạm. Ông không chửi Ðảng vì ông hiểu trong Ðảng có nhiều người yêu nước chân chính mà trong thâm tâm ông vẫn coi họ là đồng chí.

Trước Ðại hội VI (1986), trước bữa cơm chiều, cả nhà chưa ngồi vào mâm, chỉ có hai cha con với cút rượu và đĩa lạc rang thường lệ, cha tôi đang uống bỗng thừ người ra một lát rồi nói:

– Con ạ, những ngày gần đây bố suy nghĩ nhiều về tương lai đất nước mình. Con có biết bố đi đến kết luận gì không? Kết luận của bố là thế này: muốn cho dân tộc ta không thua kém các dân tộc khác, muốn cho đất nước được thịnh vượng, dân ta không nghèo khổ mãi thì không thể thiếu một điều kiện tiên quyết: ấy là phải gạt bỏ sự lãnh đạo của Ðảng cộng sản. Ðảng đến nay đã hết là đội quân tiên phong của cách mạng giải phóng dân tộc rồi. Bây giờ nó trở thành chướng ngại vật trên đường phát triển của dân tộc. Kẻ nào trong lúc này đặt quyền lợi của Ðảng lên trên quyền lợi của Tổ quốc là kẻ phản bội Tổ quốc.

Tôi sửng sốt. Tôi có thể chờ đợi ở cha tôi bất cứ ý nghĩ nào khác, nhưng không phải ý nghĩ ấy. Cần phải có dũng khí vượt qua nỗi đau mới đoạn tuyệt được với quá khứ dứt khoát đến như vậy.

– Con có hiểu vì sao lâu rồi bố không về quê không? – một hôm khác, cha tôi buồn rầu nói – Bố nhớ làng xóm lắm. Nhưng bố xấu hổ. Sau này con về, nhớ nói bố xin lỗi bà con. Bố đi làm cách mạng không phải để mọi người phải sống cuộc sống như thế này. Là con người, ai cũng vậy, không khổ vì thiếu thốn bằng khổ vì nhục. Một chế độ hạ nhục con người không phải là chế độ nhân dân ta lựa chọn.

Cha tôi là một người cổ. Tuy không giỏi Hán học, ngược lại, còn chịu ảnh hưởng văn hóa phương Tây, nhưng nhìn vào thần thái của ông, cách ứng xử của ông, bạn bè mặc nhiên xếp ông vào lớp nho sĩ cuối cùng từ lâu đã nhạt nhòa trong quên lãng. Mẹ tôi thuộc một số thơ ông làm khi còn trẻ, hai người mới quen nhau, mới yêu nhau, bà thường đọc lại cho chúng tôi nghe. Tôi đặc biệt nhớ bài dưới đây bởi khẩu khí hào hùng của nó:

Nghĩ cho tôi lại ngán cho tôi.
Ðời có bao nhiêu sắp nửa rồi.
Nước mất, nhà tan còn sống mãi,
Sông mòn núi lở cứ ngồi thôi.
Giang sơn chan chứa hai hàng lệ,
Nòi giống lau nhau mấy hạng người.
Chẳng biết rồi ra sao thế nữa…
Kiếp mình há phải kiếp trò chơi.

Cho dù nhà cầm quyền hiện nay có đối xử với tôi rộng rãi đến mấy thì tôi cũng vẫn phải viết về những ngày đen tối nọ. Tôi không coi việc viết về những năm tháng trong nhà tù xã hội chủ nghĩa là sự phản bội lòng tốt của họ đã khoan dung không giết tôi khi tôi còn nằm trong chuồng của họ. Tôi dùng từ lòng tốt ở đây theo khái niệm Việt Nam, nơi ngày xưa gia đình tử tù còn phải mang lễ vật đến tạ ơn đao phủ đã mài đao cho sắc để nhát chém được ngọt.

Tôi viết vì tôi không thể quên lời cha tôi dặn trong lần tôi ra Hà Nội thăm ông năm 1988 khi ông còn tỉnh táo:

– Con viết đến đâu rồi? – cha tôi hỏi.

– Con viết chậm lắm.

– Không cần nhanh. Nhưng không được bỏ dở. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào con cũng phải hoàn thành cuốn sách.

– Con sẽ không bỏ dở.

– Bố thấy trong người yếu lắm rồi. – cha tôi thở dài – Chà, nếu bố còn khỏe! Có nhiều điều bố cần phải viết ra cho đồng bào biết. Nhưng không còn sức nữa. Bố kỳ vọng ở con. Ðó là trách nhiệm, con ạ, là trách nhiệm.

Ông gắng gượng ngồi dậy, đặt tay lên vai tôi, nhìn vào mắt tôi:

– Không phải vì mục đích vạch tội ai mà con làm việc này, không phải vì mục đích ấy. Mục đích lớn hơn: qua vụ án này con phải để nói lên điều khác, điều rất quan trọng đối với dân tộc ta. Nhân dân ta cần phải hiểu để tránh xa vết xe đổ. Nước mà không có dân chủ, không có luật pháp, hoặc luật pháp chỉ là xảo ngôn, là mảnh đất màu mỡ cho thể chế độc tài, cho sự lộng hành tùy tiện của những tên độc tài…

Tôi hiểu tâm trạng cha tôi. Ông đã khoan thứ cho kẻ thù. Nhưng ông không ngơi lo lắng cho đất nước trước viễn cảnh xám xịt của một nền chuyên chế.

Rạng sáng ngày 3 tháng 5 năm 1990 cha tôi lặng lẽ qua đời.

Ôm xác cha đang nguội dần trong tay, tôi cay đắng nghĩ về tính không vĩnh hằng của đời người, về ý nghĩa cuộc sống và cái chết. Cha tôi đã bỏ cả đời ông vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Ông đau đớn thấy kết quả những hy sinh của ông và các đồng chí đã ngã xuống trong cuộc đấu tranh thiêng liêng bị bọn cơ hội trắng trợn tước đoạt – thay vào ách nô lệ cũ nhân dân phải sống dưới một ách nô lệ khác. Ông đau đớn nhìn thấy mình trong thân phận kẻ chiến bại. Hơn thế, ông chết đi mang theo mặc cảm có tội với dân, với nước. Ðó là nỗi khổ tâm không sao giải tỏa được trong ông.

Thế là sau Phạm Viết, Kỳ Vân,Trần Minh Việt Ðặng Kim Giang, cha tôi đã không chờ được tới ngày lịch sử sang trang, tới ngày lẽ công bằng được trả lại.

Còn nhớ ngày ông Ðặng Kim Giang hấp hối trong căn nhà lá ọp ẹp nằm trong khuôn viên chùa Liên Phái.

– Bác đừng chết bây giờ! – tôi ghé sát vào tai ông, thì thầm kêu lên – Cố lên bác, chết bây giờ là thua keo nữa đấy, bác. Bác đừng cho thằng Duẩn thằng Thọ sướng. Bác chết đi, chúng nó sướng lắm đấy. Cố mà sống, bác ơi!

– Bác đang cố đây!

Ông gượng cười với tôi. Giọng ông đã yếu lắm, nghe không còn rõ, nhưng nụ cười của ông vẫn là nụ cười trước kia, chất phác và hồn nhiên làm sao!

Tôi ngồi bên ông, nắm chặt tay ông, tôi muốn truyền sức sống của tôi cho ông.

– Cháu ơi! – lát sau ông thều thào gọi tôi.

– Dạ!

– Sinh hữu hạn, tử bất kỳ, cháu ạ! – ông kéo tay tôi lên ngực ông, dưới bàn tay tôi trái tim người lính của ông đập chậm chạp và mỏi mệt trong lồng ngực trơ xương – Con người không chống nổi mệnh trời. Bác sẽ cố, nhưng nếu không cố được…

Tôi cúi xuống sát mặt ông để nghe cho rõ. Có thể đó là những lời cuối cùng ông nói với tôi:

-… đến lượt các cháu…phải gắng sức… vì đất nước…

Tôi hiểu ông muốn nói gì.

– Vâng, thưa bác. Cháu xin hứa với bác.

Tôi hôn lên trán ông, để rơi xuống đó một giọt nước mắt xúc động.

Ông mất ít ngày sau, khi tôi đã trở lại Sài Gòn.

Ông là người được nhân dân yêu mến. Ðồng bào các vùng ông hoạt động thời bí mật vẫn nhớ ông. Hồi ông mới được thả có người dân Ðình Bảng lén lút đạp xe về Hà Nội thăm ông. “Dân chúng cháu nhớ bác, sai cháu mang về biếu bác mấy con vịt để bác bồi dưỡng”. Bước vào nhà anh ta vui vẻ khoe với ông. Nói rồi te tái chạy ra ngoài tháo cái bọc trên đèo hàng xuống. Vừa mở cái bọc ra, anh ta bưng mặt khóc òa: “ Vịt chết hết cả rồi, bác ơi! Cháu phải mang giấu cho bác, mới bỏ chúng nó vào bao tải cho người ta khỏi thấy, khốn trời nóng quá chúng nó chết ngộp hết rồi!”. Tướng Giang cũng nước mắt dòng dòng.

Tôi vẫn phải rất cẩn thận khi viết. Mỗi khi có khách tới tôi phải dọn dẹp thật nhanh chồng bản thảo rồi mới bước ra phòng ngoài. Sợ nhất là những ông bạn thân tình. Vừa bước qua cửa là họ đã xộc thẳng vào phòng trong với tôi để được cởi bỏ áo quần mà nằm xuống sàn cho mát. Tôi lấy làm buồn không dám tin một ai. Kinh nghiệm nhà tù cho tôi biết những điều bí mật bị lộ ra bao giờ cũng từ những người thân chứ không phải những người qua đường.

Những trang vừa viết xong lập tức được mang đi cất giấu ở nhà những bạn tin cẩn, là những nơi tôi ít lui tới, do đó nằm ngoài sự chú ý của công an. Cái sự viết từng mẩu một, trong tâm trạng căng thẳng, làm tôi mệt. Lại còn phải kiếm sống nữa. Hồi đó tôi làm thuê cho các tổ hợp, khi thì giải quyết giùm họ một vấn đề kỹ thuật, khi thì đi kiếm nguyên liệu cho sản xuất. Thời gian còn lại cho cuốn sách rất ít. Tôi thấy trước nó sẽ có một khuyết tật mà các nhà văn rất kỵ là không có một mạch văn nhất quán. Ban đêm tiếng lách cách của máy chữ vang xa làm vợ tôi lo ngại.

– Anh gõ khe khẽ chứ.

Tôi thở dài, nhớ tới lời nhắc nhở thường xuyên của anh bạn tù xà lim. Tôi cố gõ khẽ hơn, nhưng cái máy chữ của tôi không bao giờ học được cách thì thào.

(1) Một trong những con chim đầu đàn của nền điện ảnh của Việt Nam độc lập, nguyên cục trưởng Cục điện ảnh của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

(2) Sinh năm 1922, có bằng thành chung thời thuộc Pháp, được bầu vào Trung ương Ðảng cộng sản Việt Nam năm 1958, phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng từ 1982 đến 1991, chủ nhiệm ỷy ban Kế hoạch Nhà nước từ 1982 đến 1988. Thủ tướng chính phủ từ năm 1991.

(3) “Ưởng sai chia dân thành từng nhóm, năm hộ, mười hộ, bắt họ củ soát nhau và bị ràng buộc vào nhau. Ai không tố giác kẻ gian thì bị chém ngang lưng…” (Thương quân liệt truyện, Sử ký).

(4) Sinh năm 1931. Nhà lãnh đạo cuối cùng của Liên bang Xô-viết.

(5) Ung Văn Khiêm (1907-1991), nguyên bí thư xứ ủy Nam kỳ, nguyên bộ trưởng Bộ Ngoại Giao.

(6) Nhà sử học. Một trong những nhà cách mạng cựu trào của Nam Bộ.

(7) Nhà văn nữ, nổi tiếng với những tác phẩm mang cái nhìn mới đối với xã hội. Bị trấn áp, bắt tù, rồi được thả.

(8) Nguyên trạng.

(9) Lumpenproletariat, từ của Mác.

(10) Sự tùy tiện của những người làm án thật rõ ràng. Ta hãy xem lại trình tự công việc của họ:

– Tháng 7 năm 1967, vụ án bắt đầu với việc bắt giam Hoàng Minh Chính, Phạm Viết.

– Tháng 11 năm 1968 (ngày 14) Ban chỉ đạo chuyên án mới được thành lập, tức là hơn một năm sau.

– Tháng 3 năm 1971 Bộ Chính trị nghe Lê Ðức Thọ báo cáo, tức là gần bốn năm sau.

– Tháng 2 năm 1972 Ban Chấp hành Trung ương mới được nghe Lê Ðức Thọ báo cáo, tức là gần năm năm sau.

– Ngày 27.1.1972 Trung ương Ðảng khóa III đã ra quyết định về việc ” Hội nghị Ban chấp hành Trung ương (khóa III, hội nghị 20) nhất trí phải thi hành kỷ luật về Ðảng và kỷ luật hành chính (những người bị bắt trong vụ án) tùy theo trường hợp nặng nhẹ một cách nghiêm minh theo đúng chính sách xử trí của Ðảng, không đưa ra truy tố trước pháp luật”. (theo sự giải thích trong công văn của Trung ương Ðảng khóa VII số 260-CV/TW, ngày 30.6.1995, có nghĩa là Trung ương Ðảng khóa III đã ra quyết định… trước khi nghe báo cáo về vụ án.

(11) Ðỗ Mười (tên thật là Nguyễn Cống) – đương kim tổng bí thư Ðảng cộng sản Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp là bí thư khu ủy kiêm chính ủy quân khu tả ngạn. Là người ít học, nhưng nổi tiếng kiên định trong đấu tranh chống thực dân, giỏi dân vận, tác phong giản dị.

(12) Tôi viết những dòng này khi Hoàng Minh Chính chưa bị bắt thêm một lần nữa (lần thứ ba) và bị xử án một năm tù giam vì tội “lạm dụng những quyền tự do dân chủ”, thời tổng bí thư Ðỗ Mười.

Share... Share on FacebookTweet about this on TwitterShare on Google+Share on LinkedInEmail this to someonePrint this page