Chương 14

Hách mở cửa, lấy tôi đi cung. Những tưởng sau câu chuyện tâm sự với tôi trong buổi cắt tóc, viên quản giáo sẽ hồ hởi gặp tôi, như những người lính cũ của một thời đã xa ngẫu nhiên gặp nhau, cho dù ở trong Hỏa Lò, nhưng không – y nhìn tôi hững hờ, xa lạ.

Trong phòng hỏi cung, lại một phòng khác, Huỳnh Ngự ngồi nghiêm chỉnh sau bàn làm việc. Y lạnh lùng ngước mắt đón tôi, cái nhìn lướt trên cặp kính trắng trễ xuống sống mũi.

– Anh khỏe chớ, anh Hiên?

– Cảm ơn. Tôi bình thường. Bác vẫn khỏe?

– Vẫn khỏe. Thời tiết mấy bữa rầy tốt, ấm lên rồi.

Mở đầu buổi làm việc bao giờ cũng là câu hỏi thăm xã giao. Cứ như thể chúng tôi quan tâm tới sức khỏe của nhau lắm, hoặc đang ra sức tập dượt để dự một cuộc thi lịch sự.

Sau đó mới đến công việc. Lần này y ra câu hỏi bằng giọng rất ôn tồn:

– Anh đã suy nghĩ về lời khuyên của ông già rồi chớ?

Tôi mệt mỏi đáp:

– Tôi đã suy nghĩ.

Huỳnh Ngự quan sát tôi rồi tiến thêm một bước:

– Anh bằng lòng cung khai?

Tôi nhìn y. Chuyện này tôi tưởng đã xong, sao y còn nhắc lại? Thằng cha dai hoi quá. Y vẫn kiên nhẫn nhìn tôi, chờ đợi.

– Không. – tôi đáp, dứt khoát.

Tôi đã ở bước đường cùng rồi, sá gì chúng nó. Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất(1), cha tôi vẫn thường dạy. Ðóng kịch không có nghĩa là sẵn sàng chịu chúng trong bất cứ việc gì.

Huỳnh Ngự trừng mắt:

– Tại sao?

– Tôi đã nói rồi. Tôi không phải phạm nhân. Ðã không phải phạm nhân thì lẽ đương nhiên không việc gì phải khai.

Huỳnh Ngự liếm môi. Một thoáng suy nghĩ, y nói:

– Nhưng báo cáo với Ðảng những điều Ðảng cần hỏi anh thì anh đồng ý báo cáo chớ? Hay cũng không?

Tôi gật đầu:

– Tôi sẵn sàng báo cáo với Ðảng những gì tôi biết.

Nhưng tao sẽ không báo cáo với Ðảng của mày những gì Ðảng của mày cần để hại người đâu, tôi rủa thầm. Ðừng có mơ!

Y cảnh giác với câu trả lời của tôi. Sau khi tin chắc tôi nói không có ẩn ý, y thở phào:

– Anh ngồi xuống đi!

Tôi ngồi.

Ðợi cho tôi yên vị, y từ tốn móc trong ngăn kéo bàn viết ra một xấp giấy trắng, trịnh trọng đặt nó xuống trước mặt tôi:

– Anh là chúa hay câu nệ chữ nghĩa. Mất thời giờ nhiều lắm. Thôi được, nói cho anh hay, Ðảng đã ra chỉ thị cho tụi tui tôi để các anh được tự do lựa chọn cách làm việc.

Tôi dò xét nhìn y. Trò gì thế này?

– Bữa ni ta làm việc chính thức, theo kiểu khác. Những chi tui hỏi anh mọi ngày, chỉ là hỏi miệng, để có một cái nhìn chung, bao quát, về những điều anh biết và Ðảng sẽ hỏi anh. Chừ coi như anh đã quen, ta viết ra giấy. Các cụ gọi rứa là cái chi hè? Khai bút!

Y nói với vẻ mặt hiền từ, như cách ông giáo làng nói với học trò trong ngày khai giảng. Nói chung, Huỳnh Ngự thay đổi thái độ nhanh như làm xiếc. Ðang vui vẻ đấy, y có thể bất thình lình gầm lên như phát điên.

– Tui nói khai bút là trúng chớ, nhà văn?

Không thấy tôi tán thưởng, Huỳnh Ngự giảng giải:

– Khai bút chớ không phải khai cung, như vừa nãy tui dùng chữ có chỗ chưa chuẩn, tui đâu có là nhà văn, phải không? Ta khai cái bút để báo cáo với Ðảng những điều Ðảng cần hỏi ở ta. Việc ni chỉ có một mục đích duy nhứt nhằm xây dựng Ðảng, làm cho Ðảng ngày thêm vững mạnh…

Lại bắt đầu bài hát muôn thuở! Nhưng dù sao cũng đã có một sự lùi bước từ phía y. Y đã thôi không dùng từ khai cung.

– Tui thấy cần phải nói trước để anh hay, chừ là cơ hội cho anh đới công chuộc tội, là cơ hội cuối cùng để anh chứng minh lòng trung thành của anh với Ðảng. Vì vậy tui phải nhấn đi nhấn lại nhiều lần điều ni cho anh nhớ, đó là: trong sự báo cáo với Ðảng cái cơ bản, cái quan trọng nhứt, là phải thành khẩn, thành khẩn hết mình.

Ngừng lại vài giây để bắt tôi phải chú ý hơn nữa, y cúi xuống, ghé sát vào tai tôi mà thì thào bằng giọng tên âm mưu dặn dò đồng bọn.

– Nói để anh yên tâm, Ðảng đã chỉ thị cho tui: báo cáo của các anh là báo cáo mật, tuyệt mật…Ngoài tui ra, là người được anh Sáu giao trách nhiệm hướng dẫn các anh viết, không người mô được biết về những báo cáo này hớt. Từng báo cáo sẽ được dán kín lại rồi trình lên anh Sáu và Bộ Chánh trị…

Tôi ngơ ngẩn nhìn y. Tại sao những lời khai của chúng tôi, những kẻ có tội với Ðảng, lại phải giữ bí mật đến thế? Mà giữ bí mật với ai kia chứ?

– Anh không việc chi mà ngại: cứ mạnh dạn trình bày với Ðảng, trình bày hớt – từ những quan điểm sai trái cho tới những việc làm có hại cho cách mạng. Ðảng sẽ tha thứ cho anh một khi anh đã hối lỗi. Ðối với những người có liên quan, Ðảng yêu cầu anh không e dè, không nể nang. Phải báo cáo cho Ðảng biết về họ, cả tư tưởng, cả hành động, việc lớn việc nhỏ báo cáo tuốt. Cứ thẳng thừng mà báo cáo, cho dù người có liên quan là cha mẹ mình cũng mặc… Dứt khoát đứng về phía Ðảng, vì lợi ích của Ðảng mà chiến đấu là lập trường đúng đắn nhứt, có lợi cho mình nhứt…

Sau đoạn giáo đầu mang tính chất “đả thông”, y lấy bút máy ra, vẩy vẩy mấy cái, lau ngòi bút vào vạt áo cho thông mực rồi mới cần mẫn đánh dấu từng trang.

– Uống nước đi, hút thuốc đi, rồi ta mần. – thấy tôi vẫn ngồi yên, Huỳnh Ngự ân cần nhắc – Trà ngấm rồi đó.

Trà sang. Hôm nay là Ba Ðình chứ không phải Hồng Ðào. Tôi vẫn thích Hồng Ðào hơn. Nó ít chất nhân tạo, đã được nước lại có hậu.

Tôi nhấm nháp từng ngụm nhỏ nước trà đặc, lẳng lặng quan sát Huỳnh Ngự. Cái con người còm cõi kia chắc đã từng làm thư ký cho một ủy ban huyện, hoặc nhân viên đánh máy ở một trung đoàn bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Chao ôi, y từng là đồng chí của tôi đấy, từng là chiến hữu của tôi đấy. Giả thử tình cờ gặp nhau trong một trận càn của địch, tôi dám nhường hầm bí mật của tôi cho y lắm.

“Không e dè, không nể nang…, cho dù có là cha mẹ mình cũng mặc!” Trong đầu tôi câu nói của Huỳnh Ngự ong ong bay lượn.

Nghĩa là anh cứ việc thoải mái mà làm chỉ điểm cho Ðảng. Ðảng là của nhân dân mà, của dân tộc mà. Vì lợi ích của Ðảng, để bảo vệ Ðảng, chỉ điểm cũng là một công tác vinh quang lắm chứ.

Vào thời gian này chỉ điểm nhan nhản khắp nơi, từ thôn xã cho tới các cơ quan đầu não. Khác với các bạn đồng nghiệp thuộc các chế độ khác, thuộc những thời đại khác, tên chỉ điểm xã hội chủ nghĩa có niềm tự hào đặc biệt. Nó tự hào vì được theo dõi không riêng những đối tượng của cách mạng mà cả các đảng viên kỳ cựu của Ðảng, cũng từ cấp cơ sở lên tới tận Trung ương. Ðủ hiểu Ðảng tin nó thế nào! Nó được tưởng thưởng xứng đáng. Chỉ buồn nỗi không được khoe khoang chiến tích mà thôi. So sánh cái được với cái không được thì cái được lớn hơn nhiều.

Dùng phương pháp loại suy tôi phát hiện một số tên chỉ điểm trong giới văn nghệ sĩ qua những cuộc hỏi cung. May mắn cho tôi, và cho văn nghệ sĩ nói chung, không có gương mặt sáng giá nào làm chỉ điểm. Làm cái nghề đốn mạt này chỉ có những tên vô tài bất tướng bước vào văn nghệ qua ngả chính trị, những tên cơ hội đi bằng đầu gối, kiếm ăn bằng những bản văn tán dương chế độ. Có tên đã tập tọng viết lách, nhưng không sáng tác nổi cái gì cho ra hồn, tình nguyện cầm cây roi phê bình gác cửa văn nghệ cho Ðảng. Thậm chí có tên làm chỉ điểm cốt được vào Ðảng sớm một ngày. Tên khác săn tin trong anh em, ton hót với thượng cấp chỉ để kiếm thêm một bậc lương.

Khốn nạn, không làm là một nhẽ, phải ngồi im nghe kẻ chiêu mộ ba hoa về những quyền lợi mà Ðảng ban cho nếu anh ngoan ngoãn làm chó săn chim mồi là một nhẽ khác.

Nhục lắm!

Huỳnh Ngự kể cũng biết điều. Y không nói toạc ra rằng tôi phải đầu hàng và nhận làm chỉ điểm. Nói thế trắng trợn quá.Y muốn tôi bám lấy cái chính nghĩa y quẳng cho: vì lợi ích của Ðảng. Tôi giả vờ nghe theo. Sau đó hẵng hay.

Trong khi chờ đợi y nắn nót những giấy tờ cho cuộc khai bút tôi quan sát căn phòng vừa được đưa tới. Người Pháp không phải là tác giả của những căn phòng manh mún, thiếu tiện nghi được dùng làm nơi hỏi cung trong Hỏa Lò. Căn phòng tôi đang ngồi diện tích chỉ nhỉnh hơn xà lim một chút, lại không có cửa sổ, không có lỗ thông hơi, rất bí. Cách bố trí các phòng hỏi cung hiện nay phản ánh trung thành tính cách chủ nhân nó.

Nhìn căn phòng kín mít trong mê cung những phòng và hành lang của Hỏa Lò bất giác tôi nhớ tới anh Kỳ Vân. Anh có số phận hẩm hiu nhất, cuộc đời đối với anh bạc bẽo nhất. Khoảng một tháng trước khi anh bị bắt, vợ anh đi sơ tán gần Hà Nội bị chết đuối để lại mấy đứa con dại. Thời thuộc Pháp Kỳ Vân đã vượt khỏi nhà ngục này tới hai lần. Lần này dù có muốn anh cũng không vượt được nữa. Anh đã già. Các đồng chí của anh lại rút kinh nghiệm của những lần họ vượt ngục trước kia, kể cả hai lần vượt của anh, giữ Hỏa Lò chắc hơn, nghiêm ngặt hơn nhiều so với thời kỳ thuộc Pháp.

Khi nghe tôi báo tin Kỳ Vân bị bắt cụ Ðinh Chương Dương còn nhớ đủ cả tên họ anh:” Phạm Kỳ Vân chứ, cháu. Cháu nói Kỳ Vân, bác ngỡ là người khác. Chính bác đưa Phạm Kỳ Vân sang Tàu cho bác Hồ huấn luyện cách mệnh chứ ai, lúc bấy giờ Phạm Kỳ Vân còn nhỏ tuổi lắm, nhưng tinh thần cách mệnh thì lại rất lớn. Họ bắt bố cháu, bắt luôn cả Phạm Kỳ Vân hả? Trời đất, đồng chí với nhau cả sao mà tàn tệ thế?!”

Anh Kỳ Vân, theo lời cha tôi kể, và như bác Ðinh nhận xét, là người tuổi nhỏ chí lớn. Anh hoạt động cách mạng từ khi còn là học sinh, 21 tuổi đã là xứ ủy viên Ðảng cộng sản Ðông Dương. Tính theo bề dày cách mạng, hoạt động cùng với cha tôi, Kỳ Vân phải thuộc hàng cha chú tôi mới đúng, nhưng anh chơi với tôi cũng như chơi với Hứa Văn Ðịnh(2) ngang hàng, kiểu bạn bè, cậu cậu tớ tớ. Xem ra anh không có cái tính thích làm kẻ cả.

Anh nói về cha tôi:” Sở dĩ ông cụ cậu không có chức sắc trong Ðảng là vì hồi bí mật Ðảng chủ trương để ông cụ hoạt động công khai, có chân trong Trung ương hay là xứ ủy, bị Tây bắt nó xử dữ lắm, Ðảng không có người tháo vát như ông cụ để chắp nối liên lạc cho các cơ sở Ðảng(3). Ðến lúc có chính quyền rồi thì ông Cả(4) lại bắt ông cụ cậu giúp việc ông Hồ. Trường Chinh không thích ông cụ cậu là vì ông cụ thẳng tính, không chịu xu nịnh. Lê Ðức Thọ thì ghét ông cụ lắm lắm, thằng tiểu nhân ấy khi còn ở Sơn La với tụi mình bị ông cụ sạc cho mấy trận vì cái tính đâm bị thóc chọc bị gậy trong anh em. Chứ nó sao bì với ông nhà cậu được! Khi ông cụ vào Nam ra Bắc làm cách mạng thì nó còn là học trò. Bọn Lê Ðức Thọ viện cớ ông cụ không có chức sắc, không đưa ông ấy lên. Mình biết ông cụ cậu từ hồi bí mật, mình biết cái tình ông ấy, ngay thẳng lắm, mà nóng lắm, không kiêng nể ai đâu, nhưng đối với bạn bè, đồng chí thì tình nghĩa rất mực, cho nên mình quý. ” Tôi hỏi vì sao anh đã từng có chức sắc mà cũng không lên được, thì Kỳ Vân gõ cồng cộc vào đầu:”Tại cái này cứng quá. Ðào Duy Kỳ(5) với mình hồi băm chín lên án Trường Chinh sợ địch, thấy địch vừa tổng khủng bố đã co cẳng chạy, cho nên hắn để bụng, khi cách mạng thành công rồi không bỏ lỡ dịp nào không hành bọn mình”.

Ngồi trong phòng, tôi rét run. Thời gian trôi, ăn uống kém, dự trữ trong người cạn dần, cho nên tôi thấy rét, chứ đám chấp pháp, quản giáo vẫn phây phây đi lại. Mà cũng có lẽ tại cái phòng làm việc lâu không có hơi người. Tôi tiếc căn phòng trông ra mảnh sân hẹp, nơi có cái vòi nước hỏng. Làm việc ở đấy thỉnh thoảng còn được rửa ráy, còn có cơ may ném được mảnh giấy báo tin cho gia đình, nhất là trong tay tôi bây giờ đã có giấy bút.

Sau khi đã đi tới thỏa thuận về chuyện tôi nhận viết báo cáo, Huỳnh Ngự thay đổi thái độ. Giữa chúng tôi không còn những cuộc cãi vã căng thẳng. Bàn trà được dọn ra, hơi nước bốc trên những cái chén sạch bong, hai bên bàn là hai người điềm đạm thủng thẳng trò chuyện.

Tôi hiểu: Huỳnh Ngự lùi một bước để đòi tôi cái lớn hơn, một món lại quả còn to hơn ăn cưới. Không phải y chỉ đòi ở tôi một bước xuống thang tương ứng mà một sự thối lui thật sự nếu không muốn nói thẳng là đầu hàng.

Về thực chất, báo cáo và cung khai là một. Nhận báo cáo có nghĩa là nhận cung khai. Tuy nhiên, cũng trong buổi làm việc này Huỳnh Ngự tế nhị mhấn mạnh sự phân biệt thực ra rất nhỏ bé giữa chúng tôi và tù thường: với tư cách người được xử lý nội bộ, một thứ phạm nhân nửa dơi nửa chuột, chúng tôi được đặt vào một vị trí khác với phạm nhân thường trong quan hệ với cán bộ chấp pháp.

Ngẫm ra cái máu sĩ diện trong con người ta cũng mạnh gớm! Nếu Huỳnh Ngự cứ khăng khăng một mực bắt tôi cung khai thì vị tất tôi đã chịu. Cho dù sau bức thư của cha tôi tôi đã quyết định thôi không ngang ngạnh với y nữa. Y đoán trước được phản ứng của tôi, linh hoạt thay ngay cái từ cung khai bằng báo cáo, nghe êm tai hẳn.

Ðiều làm tôi ngạc nhiên là khu vực nhân sự mà Huỳnh Ngự quan tâm quá rộng.

– Anh có quen Tôn Thất Tùng(6) không hỉ? – một hôm bỗng dưng Huỳnh Ngự hỏi tôi.

– Không thể nói rằng tôi quen giáo sư Tôn Thất Tùng được. – tôi đáp, thờ ơ – Ông thuộc hàng cha chú tôi, lại chơi với ông cụ tôi…

– Thì tui mới phải hỏi. – Huỳnh Ngự dặn ra một nụ cười hiền lành, nhưng trên mặt y nó chỉ đạt mức không độc ác mà thôi – Hồi trước Nghị quyết 9 Tôn Thất Tùng có viết một lá thơ, nội dung là một kiến nghị gởi Trung ương Ðảng, chắc anh đã đọc…

– Tôi có nghe nói thế.

– Chu cha, sao lạ vậy chớ? Anh mà chỉ nghe nói!? – Huỳnh Ngự ngoẹo đầu, bĩu môi – Khó tin quá hà! Thư đó ông cụ anh có trong tay, còn đưa hết người nầy người nọ đọc, mà anh không được đọc thì lạ quá.

– Tôi không được đọc có lẽ vì thời gian đó tôi không có mặt tại Hà Nội.

Huỳnh Ngự gật gù:

– Cứ cho là như vậy. Nhưng anh là nhà báo kia mà. Nhà báo thì phải biết mọi chuyện mới là nhà báo chớ. Người ta ồn cả lên vì bức thơ mà anh không biết. Hỏng. Tôn Thất Tùng viết bức thơ nầy trong loạt thơ gởi Trung ương nhằm gây áp lực buộc Trung ương phải thay đổi đường lối. Ngây thơ quá! Trung ương cần chi tới ý kiến mấy anh khoa học dở hơi mà thơ với từ. Ông già sau rồi cũng không đưa anh đọc?

– Không.

– Tui dám cá với anh nè, rằng anh có đọc, nhưng anh chối. Mà thôi, bỏ qua chuyện đó đi, anh có đọc hay không đọc không phải chuyện quan trọng.

Tôi cười trừ. Biết nói gì với y bây giờ? Ðôi co với y, tôi biết rồi, là chuyện vô ích.

Một nguyên tắc của công an là không tin cái gì hết, cho dù mình có nói thực. Chỉ khi nào dùng đủ mọi cách rồi mà không khai thác được gì hơn thì người ta đành chấp nhận cái đã thu được,

Huỳnh Ngự chăm chú rót trà vào chén mình. Lẽ ra, trong bầu không khí không căng thẳng hôm nay y phải mời tôi mới đúng, nhưng y quên không mời. Dù đã cố gắng nhiều y vẫn chưa thành người lịch sự.

– Tui lấy làm lạ cho bọn trí thức các anh! – sau khi thỏa mãn với chén trà cắm tăm(7), Huỳnh Ngự ngả người trên ghế, hai tay chắp trước bụng – Ðảng chiều như chiều vong, chẳng động đến các anh thì chớ, có sai sót chi cũng cho qua luôn, không thèm bắt bẻ, lại còn tạo mọi điều kiện thoải mái cho các anh làm việc, cho các anh hưởng mọi tiêu chuẩn hơn người, vậy mà các anh rửng mỡ đòi nhảy vô lãnh vực chánh trị, phát biểu lung tung vô trách nhiệm, đòi đường lối của Ðảng phải thế kia thế khác. Hết khôn thời dồn ra dại. Có người cầm tay dắt đi không muốn, muốn tự mình mò mẫm…

Trong chuyện bức thư tôi không nói dối y. Tôi tiếc không được đọc bức thư ấy. Hình như lúc đó tôi đi viết ở Thái Bình thì phải. Nghe nói bác sĩ Tôn Thất Tùng viết rất cảm động. Nhìn sang nước láng giềng, thấy tình cảnh trí thức bên đó bị đấu tố, bắn giết, tù đầy, ông lo lắng cho số phận trí thức Việt Nam, lo cho tương lai nền khoa học nước nhà. Ông muốn lấy lời tâm huyết khuyên can Ðảng đừng đi theo con đường Trung Quốc, bởi nó đem lại cho dân tộc những tổn thất không lường hết được và sự kéo lùi lịch sử nhiều năm.

– Tôn Thất Tùng có hay tới ông già anh không?

– Tôi không rõ. Cũng có thể giáo sư đến chơi với ông cụ tôi mà tôi không biết. Tôi ở trên gác, ông cụ tôi ở dưới nhà.

– Cái nớ tui rõ. Vậy còn Tạ Quang Bửu. Anh biết chớ?

– Cũng không. Tôi có phỏng vấn giáo sư Tạ Quang Bửu. Cái sự biết như thế không thể gọi là biết. Bài phỏng vấn sau bị xếp lại vì báo thiếu chỗ.

– Hình như tay nầy ăn nói cũng lung tung lắm, phải không?

– Làm sao tôi biết được! – tôi nhún vai – Khi nói chuyện với người không quen biết chẳng ai dại gì nói chệch đường lối của Ðảng, nhất là trong lúc này. Mọi câu trả lời phỏng vấn, theo kinh nghiệm của tôi, thường bao giờ cũng giống xã luận báo Nhân dân.

Huỳnh Ngự nhìn tôi cảnh giác. Y rất sợ bị xỏ lá mà không biết, hoặc về tới nhà mới biết.

Mặc cho Huỳnh Ngự nghĩ gì thì nghĩ, tôi điềm nhiên rót trà cho mình. Trà chát xít ở cổ họng.

-Vậy chớ Nguyễn Tuân, anh biết hay không biết?

– Nguyễn Tuân thì tất nhiên tôi phải biết.

– Phan Kế An?

– Tôi biết anh Phan Kế An.

– Anh sẽ viết một báo cáo về Phan Kế An chớ?

– Tôi không biết Phan Kế An tới mức có thể nói gì về anh ấy.

– Còn Phan Kế Hoành?

– Anh Hoành là bạn tôi.

Huỳnh Ngự hài lòng thấy tôi sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của y. Y mời tôi, đúng hơn là cho tôi, một điếu Ðiện Biên.

– Kể cũng lạ, lão khâm sai đại thần(8) thì cúc cung theo ta, mà mấy đứa con thì như giặc. – ngả người trên ghế, Huỳnh Ngự nhả khói lên trần – Anh có biết Phan Kế Hoành hắn giải thích bôi đen chế độ ra răng không?

– Không. Khi anh Phan Kế Hoành dạy ở Ðại học Tổng hợp thì tôi ở Liên Xô. Vụ Nhân văn – Giai phẩm tôi chỉ được nghe kể lại. Mà hình như Phan Kế Hoành không liên quan tới Nhân văn – Giai phẩm.

– Hắn là Nhân văn – Giai phẩm một nửa. Hắn với hai thằng Bùi Quang Ðoài, Văn Tâm(9) ở trong nhóm Ðất Mới.

Tôi nói dối. Tôi biết chuyện Huỳnh Ngự vừa nhắc tới. Nó là thế này: sinh viên hỏi thầy Phan Kế Hoành chuyện báo chí nói nhóm Nhân văn – Giai phẩm bôi đen chế độ nghĩa là thế nào. Thầy Hoành bèn sai một nữ sinh xuống nhà bếp mượn cho anh cái chảo. Ðoạn, anh bảo cô sinh viên:”Em xoa bàn tay của em vào trôn chảo đi, xem tay em đen chưa nào, được rồi, bây giờ em xoa tay lên bảng! Xoa đồng nghĩa với bôi. Bôi đen nghĩa là như thế!

Sau vụ này Phan Kế Hoành bị tước quyền dạy học. May, người ta còn nể cụ Phan Kế Toại, nên anh chỉ bị chuyển qua công tác khác.

Cái lối gọi cụ Phan Kế Toại xách mé như thế chỉ có ở những tên cán bộ hãnh tiến. Chúng không biết rằng việc một đại thần triều Nguyễn có mặt trong hàng ngũ cách mạng và kháng chiến là biểu tượng của tinh thần đoàn kết dân tộc, là tấm gương cho nhiều người trước kia làm việc trong chính quyền thuộc địa noi theo. Nhờ những nhân sĩ có tên tuổi như cụ Phan Kế Toại đứng bên những người cộng sản mà chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Pháp thêm rạng rỡ, uy tín của Ðảng cộng sản được nâng cao.

– Còn Văn Cao?

– Văn Cao thì tôi biết.

Huỳnh Ngự cười khẩy:

– Phải nói thân mới đúng chớ! Anh với Văn Cao cùng một hội mà. Các anh gọi Văn Cao là cái chi nhỉ? Tui nhớ rồi: ông tiên chỉ.

Thì ra y cũng biết cái biệt hiệu tếu mà chúng tôi đặt cho Văn Cao.

Cái cách hỏi cung của Huỳnh Ngự là thế: y nhảy lan man từ nhân vật này qua nhân vật khác, từ đề tài này qua đề tài kia, luôn giữ chặt người bị hỏi cung trong thế bị động.

Trong khi giữ vẻ mặt bình thản để trả lời những câu hỏi khó hiểu của Huỳnh Ngự, tôi luôn phải căng thẳng suy nghĩ: y muốn gì?

Nghi ngờ Nguyễn Tuân, Văn Cao đã đành, hai ông vốn ngang bướng, không cân nhắc lời ăn tiếng nói. Khốn nỗi, bất cứ cái gì không phải từ Ðảng mà ra đều làm cho Ðảng khó chịu, ngứa ngáy chân tay, muốn đánh. Nhưng tại sao họ lại vơ cả Tôn Thất Tùng với Tạ Quang Bửu vào đấy?

Tôn Thất Tùng là một nhà giải phẫu tài ba. Phương pháp mổ gan khô của ông được đồng nghiệp trên thế giới đánh giá như một sáng tạo độc đáo trong ngành giải phẫu. Tôi gặp Tôn Thất Tùng nhiều lần. Ông để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc về một trí thức ngang tàng. Trong một lần phỏng vấn ông, Tôn Thất Tùng tiếp tôi tại phòng làm việc trong bệnh viện Việt-Ðức. Thấy tôi nghiêng ngó ngắm bức tượng bán thân của chính ông đặt ngay sau bàn, sát tường, Tôn Thất Tùng mỉm cười pha chút khiêu khích:”Anh lấy làm lạ hả, nhà báo?”. Tôi đỏ mặt lên, không biết trả lời ông thế nào, cứ như thể tôi bị bắt quả tang đang nghĩ xấu về ông vậy. Thái độ bối rối của tôi làm ông thú vị. ” Người ta có tượng của họ, sao mình lại không thể có tượng của mình? Anh đồng ý thế không?”, ông nói.

Chữ người ta mà ông dùng là để chỉ ông Hồ Chí Minh. Không giấu giếm, cũng không cay cú. Ông ghét cái sự sùng bái, sự tôn vinh quá mức một con người, đưa con người đó lên hàng thánh nhân. Chừng ông thấy khắp ngang cùng ngõ hẻm đều có tượng ông Hồ Chí Minh, ông muốn chơi chướng, bèn thuê nặn tượng mình.

Không rõ nhà điêu khắc nào đã nặn bức tượng đó. Nó được làm giả chất liệu đồng hun và đặt nghiêm trang trên đế gỗ. Ðáng tiếc, trong bức tượng không có được những nét hóm hỉnh rất sinh động đặc trưng của nhà giải phẫu.

Giáo sư Tạ Quang Bửu hồi ấy làm chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước. Tòa soạn giao cho tôi viết một bài giới thiệu về ẹy ban, cái thai nhi hứa hẹn trở thành Viện Hàn lâm sau này. Tại văn phòng đảng ủy, tôi được phó bí thư hay ủy viên thường vụ tiếp, hình như tên là Lê Duy Văn thì phải, nếu tôi nhớ không nhầm. Người của Ðảng gày nhẳng, lộ hầu, áo sơ-mi nhàu nát bỏ ngoài quần, đang ngồi bên cái transistor Xiang Mao. Vào giờ ấy Ðài phát thanh Bắc Kinh đang truyền đi một văn kiện quan trọng. Trong thời kỳ sôi động của cuộc đấu tranh giữa hai đường lối đài Bắc Kinh đóng vai huấn luyện viên môn võ mồm. Trong những ngày ấy nó phát đi phát lại không mệt mỏi một giáo trình lê thê gồm những bài phê phán Liên Xô, được các nhà mác-xít nội hóa gọi là những quả đấm dành cho Khrusov.

Tôi được Lê Duy Văn tiếp niềm nở. Sau một tuần trà, chúng tôi nói chuyện tâm đắc như hai anh mác-xít chính cống (nghĩa là đặc sệt mao-ít).

– Tôi sẽ bố trí để đồng chí phỏng vấn hắn – anh ta tin cậy thì thầm – Ðồng chí gặp hắn cứ làm ra vẻ thân mật, trí thức cả với nhau ấy mà, hắn mắc câu ngay thôi, thằng cha vậy mà cả tin lắm. Thế rồi trong câu chuyện đồng chí mới đặt cho hắn mấy câu hỏi thế này thế này… Về bài báo giới thiệu ẹy ban xin đồng chí cứ viết theo tài liệu tôi đưa đây, nó được soạn sẵn cho các nhà báo nước ngoài. Cần thêm vào đấy cái gì thì thêm, cứ theo lập trường Ðảng ta là được…Phỏng vấn Tạ Quang Bửu xong, đồng chí ghi được gì xin chuyển cho chúng tôi, càng có nhiều chi tiết càng tốt.

Tôi muốn đập vào cái bản mặt mác-xít lê-nin-nít đểu cáng của anh chàng này một cái quá. Trông người mà nghĩ đến ta, chắc sau lưng tôi cũng chẳng thiếu những ông bạn quý hóa bước ra từ cùng một lò.

Trong tiếng Việt của ta cách xưng hô thực phong phú. Vào Hỏa Lò tôi mới biết ở đây, hay nói cho đúng trong ngành công an, có lệ bất cứ ai bị bỏ tù đều là thằng hết, còn ai chưa bị bỏ tù, nhưng có thể bị bỏ tù, thì gọi tên không. Cách gọi thằng, con trong ngôn từ chính trị có cội nguồn của nó. Nó xuất hiện vào cuối cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính ông Hồ Chí Minh dùng cách gọi này trong những cuộc nói chuyện với cán bộ và trong những bài viết trên báo Cứu Quốc: thằng Mỹ, thằng Pháp, thằng Xihhanúc, thằng Lý Quang Diệu, thằng Măng-đét Phrăng… Theo gương ông, về sau người ta gọi bất kỳ kẻ thù chính trị nào cũng bằng thằng hết: thằng Bảo Ðại, thằng Diệm, thằng Khánh, thằng Kỳ, thằng Thiệu…Cách gọi như thế được coi như sự khẳng định lập trường chính trị.

Ðể phân ranh giới, Huỳnh Ngự gọi những người bị bắt bằng thằng Giang, thằng Chính, thằng Kỳ Vân, thằng Minh Việt vân vân. Với bác sĩ Tôn Thất Tùng, nhà khoa học Tạ Quang Bửu, nhà văn Nguyễn Tuân, nhạc sĩ Văn Cao mà Huỳnh Ngự không gọi bằng thằng mà bằng tên trống không, không có tiếng ông đi trước. Theo tôi hiểu thì điều đó có nghĩa những trí thức lớn của đất nước tạm thời chưa bị coi là đối tượng của cách mạng nhưng không còn được nhà cầm quyền tôn trọng.

Tôi cho rằng Ðảng cộng sản Việt Nam đối xử với trí thức rất không công bằng. Trí thức Việt Nam thời ấy ngoan ngoãn lắm, dễ bảo lắm. Quằn quại trong thân phận nô lệ, khi đất nước giành được độc lập, họ tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Trong niềm tin đã được khẳng định qua Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, trí thức sẵn sàng làm bất cứ công việc gì Ðảng cần đến. Không ở đâu trong các nước xã hội chủ nghĩa có được một tầng lớp trí thức ngoan như thế. Trí thức ở các nước Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc, Liên Xô, kể cả trí thức Trung Quốc cứng đầu hơn nhiều.

Ðảng tập hợp họ, bảo họ chỉnh huấn để củng cố và nâng cao lập trường thì họ thành tín như những cậu học trò nhỏ ngồi nghe cán bộ Ðảng dạy bảo. Ngỡ ngàng trước những tín điều lạ tai, lòng nhủ lòng rằng mình mang nhiều tư tưởng của các giai cấp bóc lột nên không hiểu nổi những điều Ðảng dạy, họ tin cậy đưa tay cho Ðảng dìu dắt, hùng hổ xỉ vả nhau về những khuyết điểm có thật và không có thật đối với cách mạng, cặm cụi viết những bản tự kiểm thảo trước Ðảng, hi vọng được Ðảng tha thứ mọi lỗi lầm, để được đi theo Ðảng tới chân trời cộng sản.

Ðảng bảo phải hạ phóng, ba cùng(10), thế là họ bỏ bàn giấy, phòng thí nghiệm, giảng đường, ba lô lên vai xuống nông thôn, chịu cực, chịu khổ, ba cùng với nông dân, ngày ngày tu dưỡng hòng có được những đức tính của người dân cày chẳng cần học hành cũng có…

Ðảng hô hào phóng tay phát động quần chúng làm Cải cách ruộng đất thì họ lăn lộn ngày đêm nơi bùn lầy nước đọng “thăm nghèo hỏi khổ, bắt rễ xâu chuỗi(11)”. Cùng với đội với đoàn họ mẫn cán thực hiện định mức thành phần(12), tìm ra bằng được, cho đủ số kẻ thù theo chỉ tiêu của Ðảng đặt ra, hăng hái lôi bọn cường hào, ác bá ra đấu tố, ra pháp trường. Ðến khi Ðảng ngượng ngùng tuyên bố sửa sai thì họ mới ngã ngửa ra rằng họ, những trí thức, lẽ ra phải lấy nhân ái làm đầu, thì đã theo Ðảng nhúng tay vào máu. Do quá tin Ðảng họ nhắm mắt tuân theo, không suy nghĩ, ai ngờ cùng với chủ thuyết lấy đấu tranh giai cấp làm động lực tiến hóa, Ðảng đã gây ra vô vàn bi kịch trong đời sống một dân tộc hiền hòa.

Nhưng rồi bị Ðảng dẻo mỏ thuyết phục rằng sai lầm là nhất thời, thắng lợi là căn bản, họ lại lẽo đẽo theo Ðảng, dùng uy tín của trí thức lôi kéo nhân dân vào những phong trào lẩm cẩm, thậm chí phản khoa học, như cấy dày để tăng sản lượng lúa, cắt đuôi, cắt tai, cắt tuyến giáp trạng của lợn cho lợn mau lớn, tăng năng suất vận tải bằng một xe kéo nhiều rơ-moóc… Kịp tới khi những cánh đồng cấy dày chỉ cho rơm chứ không cho thóc, những con lợn bị cắt đuôi, cắt tai, cắt tuyến giáp trạng(13) lăn đùng ra chết tốt, những chiếc xe tải kéo nhiều rơ-moóc hỏng hàng loạt thì họ lại ngã ngửa ra lần nữa, chợt thấy Ðảng chẳng hề là trí tuệ và lương tâm thời đại như báo Ðảng quảng cáo, mà chỉ là một mớ tạp pí lù những kiến thức chắp vá học mót ở những thầy mo bên Tàu.

Vị trí của trí thức ở Việt Nam thật thảm hại. Số phận của họ cũng thảm hại không kém.

Vừa sử dụng vừa dè chừng trí thức, không thực lòng đoàn kết với họ, là sách lược của Ðảng. Cứ mỗi khi xuất hiện một biến cố chính trị là mỗi lần Ðảng phải căng mắt theo dõi mọi động thái của trí thức, tay lăm lăm dùi cui và còng số 8. Lần này cũng vậy. Sau vụ “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” ở Trung Quốc, vụ Nhân văn – Giai phẩm ở Việt Nam, sau những biến cố chính trị ở Hungari, Ba Lan, Tiệp Khắc, người ta còn đề cao cảnh giác hơn nữa đối với đám trí thức bất trị.

Những cuốn sách được viết ra dưới ánh sáng duy nhất của đường lối Ðảng vẫn bị xem đi xét lại nhiều lần trước khi được xuất bản. Hội họa là lĩnh vực các nhà lãnh đạo i tờ nhất, họ vẫn đòi xen vào để dạy bảo. Trường Chinh thân hành duyệt những cuộc triển lãm hội họa. Tôi còn nhớ chuyện bức Ô Quan Chưởng, được coi là một trong những tranh đẹp nhất của Bùi Xuân Phái, bị Trường Chinh nhận xét thế nào. “Hừm, thế này mà là tranh à?! – chắp tay sau lưng, Trường Chinh đứng lâu trước bức tranh, ngắm nghía – Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam đang tiến lên chủ nghĩa xã hội hay là một thành phố chết? Các đồng chí nhìn xem: phố Hà Nội không người, chỉ có nắng chang chang với hoa phượng rụng đầy như máu, có một chiếc xích-lô thì người đạp xích-lô cũng đi đâu mất… Giá mà xa xa, ở hậu cảnh có lấy vài cái cần trục chứng tỏ chúng ta đang xây dựng thì còn tha thứ được, đàng này…!” Bức tranh bị ông Trường Chinh loại khỏi cuộc triển lãm.

Bùi Xuân Phái gọi những bức tranh không bao giờ được triển lãm là tranh quay mặt vào tường. Anh vẽ chúng trên gian gác lửng tối mò ở Phố Hàng Thuốc Bắc. Thứ gác này mới xuất hiện vào cuối những năm 50, chia căn phòng thành hai theo chiều cao, đứng thẳng là đụng trần, đi lại phải lom khom. Dưới cái gác lửng của anh vừa là nhà ở, vừa là phòng ăn, vừa là phòng học của con cái. Tôi uống trà với anh trong ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn 60 oát trộn lẫn ánh sáng tự nhiên khuếch tán, ngắm những bức tranh quay mặt vào tường được anh lôi ra từng cái một.

Chẳng cứ tranh. Nhiều truyện ngắn cũng chung số phận. Chúng không bao giờ được nhìn thấy ánh sáng mặt trời mà chỉ tồn tại ở dạng kể. Kim Lân gọi chúng là những truyện ngắn xuất bản bằng mồm. Anh có một truyện ngắn kiểu đó, truyện Thằng Câm. Tourgueniev cũng có một truyện ngắn với đề tài tương tự, nhưng xem ra khó vượt nổi Kim Lân. Thằng Câm chẳng bao giờ ra đời. Cho đến lúc có thể viết được thì Kim Lân không còn hứng thú. Gặp anh tại Sài Gòn năm 1990, tôi nhắc anh truyện Thằng Câm thì Kim Lân cười buồn: khốn nạn cái số Thằng Câm nhà tôi nó vất vả, nó chết yểu là do thiên định, thôi thì để cho nó mồ yên mả đẹp, có dựng nó dậy cũng chẳng được, mà cũng chẳng ích gì.

Tôi buồn cho thân phận văn nghệ sĩ nước ta. Nào họ có muốn đấu tranh với ai. Họ chỉ muốn được sống yên để làm công việc mình yêu thích. Mà không được!

Lần này, vào thời điểm trào lưu dân chủ ào ào dâng lên tại các nước xã hội chủ nghĩa, trí thức Việt Nam lẳng lặng đứng về phía những người anh em của mình. Ðó là làn sóng ngầm bên dưới mặt nước phẳng lặng.

Ai cũng biết trí thức được đào tạo tại phương Tây hay tại các nước xã hội chủ nghĩa chẳng có gì đáng gọi là lực lượng, nhưng lại có tình yêu và lòng ngưỡng mộ của quần chúng. Trong mọi biến động lịch sử trí thức bao giờ cũng đi tiên phong. Mao thừa nhận tác dụng ngòi nổ của tầng lớp này trong cách mạng, nhưng khi cách mạng thành công, Mao nói, trí thức sẽ là vật cản bởi tính chất lừng chừng, dao động của nó. Trong những vụ nổi dậy ở Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc, trí thức, nhất là trí thức trẻ – sinh viên và học sinh – ào ào xuống đường, kéo theo các tầng lớp khác. Tấm gương tầy liếp đó làm cho những nhà lãnh đạo Việt Nam luôn dè chừng trí thức.

Khẩu hiệu “trí, phú, địa, hào – đào tận gốc, trốc tận rễ” trong cuộc nổi dậy Xô-viết Nghệ Tĩnh bộc lộ tâm trạng hằn thù trí thức của những kẻ dốt nát. Tâm trạng này có chiều sâu lịch sử, từ những cuộc trấn áp tàn bạo cho tới những vụ đốt sách chôn học trò.

Ðòn đánh không trực diện nhằm vào trí thức lần này giáng xuống những người cộng sản thân trí thức. Ðó là những người cách mạng ý thức được nhược điểm của mình. Họ thừa nhận mình dốt, và họ tìm được sự bổ sung cho lỗ hổng kiến thức bằng sự liên kết chặt chẽ với trí thức.

Những người cộng sản thiếu học không hiểu rằng mục đích cuối cùng của cách mạng vô sản, theo Mác, không phải chỉ nhằm giải phóng thân phận nô lệ của người vô sản

mà là giải phóng con người nói chung, nhằm “đưa con người từ vương quốc tất yếu qua vương quốc tự do”. Mác không tưởng trong hình dung xã hội tương lai, nhưng mục đích của ông đầy tính nhân đạo.

Ðánh vào những người cộng sản chủ trương dân chủ hóa xã hội, xóa bỏ chế độ toàn trị, là thủ tiêu chỗ dựa tinh thần của trí thức, thủ tiêu ý chí đấu tranh của trí thức, đặt trí thức vào đúng vị trí Ðảng muốn: vị trí của thằng hầu.

Duẩn-Thọ là những nhà chính trị không đần độn. Không cần ai dạy bảo họ cũng thấy trước được điều gì sẽ xảy ra cho vị trí kẻ cầm quyền dựa trên sức mạnh bạo lực. Họ biết quần chúng sớm muộn cũng sẽ biết bộ mặt thật của họ. Tương lai làm họ sợ hãi. Trong cơn sợ hãi họ tung đòn đánh trước.

Ông Bùi Công Trừng(14) nói với tôi:”Cháu nhớ lấy, ở đời dốt nát với hiểu biết như nước với lửa. Họ dốt (tức các nhà lãnh đạo), đã thế lại không chịu học, thánh nhân phải học sao còn là thánh nhân, thành ra đã dốt lại càng dốt thêm. Dốt ghét giỏi là lẽ thường tình. Trí thức nước mình còn khổ, chừng nào thằng dốt còn đè đầu thằng giỏi. Cái đó là bi kịch không phải của một mình nước ta mà của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Bác già rồi, số tận rồi, nghĩ mà thương các cháu”.

Ông Bùi Công Trừng nằm trên giường bệnh thở oxy vẫn đọc sách. Tôi nhớ rõ ông là người gióng hồi chuông báo động sớm nhất về nạn phá rừng. Ngay từ cuối thập niên 50, khi vấn đề môi sinh chưa trở thành vấn đề gay gắt toàn cầu, ông đã viết những bài về việc phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. ÔNg phàn nàn với tôi: “Cháu ơi, tội ác của chúng nó lớn lắm – đất đai mình rừng vàng biển bạc thiệt, nhưng đâu phải vô tận. Giờ chúng hô hào tăng gia sản xuất tràn lan, dân được thể phá rừng quá xá. Mấy năm trước, cháu còn nhớ không, lên tới Ðoan Hùng đã là rừng rồi. Bây giờ đến tận Tuyên Quang còn là trung du! Bọn chúng chỉ có phá là giỏi!”. Ông để lại một tập sách dày gồm những suy nghĩ của ông về phát triển kinh tế địa phương, kết quả của những nghiên cứu sâu sắc và khoa học, đến tận thời kỳ “bung ra” (1979-1980) vẫn còn đắc dụng cho các tỉnh ủy.

Cuộc trấn phản đang diễn ra ở miền Bắc Việt Nam là bản sao của cuộc trấn phản trong và sau Ðại cách mạng văn hóa vô sản ở Trung Quốc. Trong tình hình đất nước đang có chiến tranh người ta giới hạn mục tiêu trong sự vô hiệu hóa một số ủy viên Bộ Chính trị và ủy viên Trung ương có khả năng thế chỗ ban lãnh đạo đương thời một khi xảy ra biến động. Ðòn mạnh hơn được giáng xuống những người cộng sản ở cấp thấp hơn.

Charles Fourniau, nhà sử học Pháp có nhiều công trình nghiên cứu về Ðông Nam Á, đã từng chiến đấu bên cạnh nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc 1946-1954, trong một hội thảo bàn tròn vào cuối thập niên 70 đã huỵch toẹt ra rằng:”Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Kampuchea là những xã hội cùng chung một mô hình, chỉ khác nhau ở cấp độ mà thôi”.

Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ không phải Mao Trạch-đông. Họ không có và chẳng bao giờ có được cái vĩ đại mà Mao có. May cho Việt Nam, trong chuyện hành hạ trí thức Duẩn-Thọ hành động còn rụt rè. Trí thức dưới thời Duẩn-Thọ chỉ bị hành hạ cho tới thui chột đi mà thôi. Lại một lần nữa Nguyễn Tuân có dịp để chơi chữ. Ông nói: ” ê Cam-pu-chia Pôn-Pốt diệt chủng, ở ta êm nhiều, người ta chỉ tuyệt chủng thôi!”.

Một đặc điểm của thời kỳ này là đường lối đánh đu giữa hai cọc. Trên những trang báo Nhân dân, và các báo khác cũng thế, cứ mỗi bài nói tới Liên Xô thì lại có một bài nói về Trung Quốc, với số dòng tương đương, với cỡ chữ tương đương, không bên nào được lớn hơn bên nào. Ðưấng lối này được giữ trong một thời gian dài trong cuộc xung đột ý thức hệ chủ yếu là nhờ ông Hồ Chí Minh. Vai trò “tôi là người giữa tôi chữa đôi bên” của ông, đáng tiếc, đã tỏ ra không bền. Vị thế trung dung sở dĩ tồn tại được một thời gian còn nhờ ở tâm trạng do dự của Lê Duẩn. Một mặt, Lê Duẩn sợ Mao Trạch-đông nổi nóng thấy Việt Nam không nồng nhiệt hưởng ứng cuộc chiến tranh tư tưởng do ông ta tiến hành chống Liên Xô. Mặt khác, Lê Duẩn sợ những người chủ mới của điện Kremli lạnh lùng thắt hầu bao lại. Những ý kiến đối nghịch ở trong nước không được Lê Duẩn tính đến, hoặc không được tính đến một cách nghiêm túc. Chuyện nội bộ Duẩn để cho Thọ toàn quyền. Cho nên mới có chuyện cùng một lúc Lê Duẩn thề thốt trung thành với Liên Xô, Lê Ðức Thọ bắt bọn xét lại hiện đại.

Có vẻ số dê tế thần của nước chư hầu chưa đủ làm vừa lòng Mao. Anh bạn nhà báo Hoa kiều tên là Lâm Âm cùng công tác với tôi tại báo ảnh, một Hồng vệ binh chính cống ở xa tổ quốc, đã bật ra điều này trong cơn tức giận. “Mao chủ tịch dạy rằng: đánh giá cán bộ phải căn cứ ở việc làm chứ không ở lời nói. – anh ta nói – Ðảng cộng sản Trung Quốc coi những kẻ ngoài miệng chống xét lại mà không làm việc gì chống xét lại cũng là một thứ xét lại! Hết thảy bọn chúng đều là cỏ dại!”(15).

Tôi không làm chính trị. Tôi cũng chẳng có mưu toan làm lung lay ngai vàng của Duẩn-Thọ. Mộng lớn nhất của tôi là được sống yên lành để được làm công việc mà tôi yêu thích. Ngoài cái đó ra tôi chỉ vỏn vẹn là một anh tiểu trí thức Việt Nam đặc thù: một nhúm kiến thức tây học trộn với nắm tro tàn của tinh thần nho sĩ xưa mà thành.

Thôi được, đành phải nhu vậy. Cái thế không thể khác. Nhưng nhu là nhu tới mức nào đây? Nhu quá là đầu hàng vô điều kiện.

Tôi biết mình chẳng bao giờ học được thói luồn cúi. Riêng sự phải lặng thinh nuốt nhục vào lòng đối với tôi cũng đã khó lắm rồi. Khó hơn chết. Cái chết chẳng có gì đáng sợ. Nó là cái tặc lưỡi, cái nháy mắt, sau đó là hết, là cõi hư vô.

Sống mới thực là khó.

(1) “Ðắc chí, dữ dân do chi, bất đắc chí, độc hành kỳ đạo, phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử vị chi đại trượng phu”, nghĩa là “lúc đắc chí thì cùng với dân mà hành đạo, không đắc chí thì hành đạo một mình, khi giàu sang không ham mê tửu sắc, lúc nghèo hèn không dời đổi tiết tháo, trước uy vũ không khuất phục” (Sách Mạnh tử, Ðằng Vân công Hạ)

(2) Nhà văn (1933-1995), nhà biên kịch.

(3) Theo các đồng chí cũ của cha tôi kể lại thì công tác chính của cha tôi trong thời kỳ bí mật là chắp nối các cơ sở Ðảng, vận động trí thức.

(4) Một trong những bí danh của Nguyễn Lương Bằng.

(5) Nguyên bí thư xứ ủy Bắc kỳ.

(6) Tôn Thất Tùng, được Nhà nước Việt Nam tặng danh hiệu anh hùng lao động, một nhà giải phẫu tài năng, nổi tiếng trong giới phẫu thuật gia trong nước và thế giới.

(7) Trà pha thật đặc, nói thậm xưng là cắm que tăm vào mà que tăm vẫn đứng chứ không đổ.

(8) Cụ Phan Kế Toại năm 1945 là Khâm sai đại thần của chính phủ Nam triều. Ði với cách mạng, cụ giữ chức bộ trưởng Bộ Nội vụ (công việc khác với Bộ Nội vụ bây giờ). Họa sĩ Phan Kế An là con trưởng cụ Phan Kế Toại, nhà nghiên cứu sân khấu Phan Kế Hoành là con thứ.

(9) Khi có vụ Nhân văn – Giai phẩm Bùi Quang Ðoài và Văn Tâm (nhà nghiên cứu văn học, nhà thơ) ở trong nhóm Ðất Mới của sinh viên, lập trường gần với nhóm Nhân văn – Giai phẩm.

(10) Hạ phóng, từ ngữ đặc Trung Quốc, có nghĩa đi xuống dưới, xuống cơ sở, xuống với dân. Ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng lao động.

(11) Vận động bần cố nông đấu tranh với địa chủ bằng cách từ một nông dân bị bóc lột nhiều nhất, nặng nề nhất lôi kéo các nông dân khác.

(12) Trong Cải cách ruộng đất ở Việt Nam, người ta không xuất phát từ tình hình cụ thể của địa phương mà định mức thành phần, bất kể có phù hợp hay không, chẳng hạn người ta đề ra là 5% địa chủ thì đội cải cách cứ phải tìm ra cho đủ số.

(13) Những người tò mò có thể tìm thấy trong thư viện những bài báo cổ động cho những phong trào lẩm cẩm này trong chính báo Nhân dân những thập niên 50-60.

(14) Bùi Công Trừng(1902-1977) là một nhà cách mạng cộng sản thuộc lớp kỳ cựu, tốt nghiệp Ðại học Phương Ðông Moskva, ủy viên Trung ương Ðảng, cựu tù nhân Côn Ðảo, phó chủ nhiệm ỷy ban Khoa học Nhà nước đầu thập niên 60.

(15) Lâm Âm về sau cũng bị bắt (không có án) khi Trung Quốc tấn công Việt Nam. Nghe nói rồi anh được thả, hiện sống tại Sài Gòn.

Share... Share on FacebookTweet about this on TwitterShare on Google+Share on LinkedInEmail this to someonePrint this page