Chương 4

Tôi lặng lẽ quan sát người từ nay tôi phải sống cùng, không biết là bao lâu: vài tuần, dăm tháng hay cả năm?

Tôi nhớ đến chuyện cha tôi kể về những lần ông bị bắt. Ông nói quan trọng nhất là mấy ngày đầu. Mọi thủ đoạn của địch nhằm bẻ gẫy mình nằm trong mấy ngày đó. Tra tấn dữ nhất cũng trong mấy ngày đó. Sau thì không đáng kể. Vào thời gian này địch thường cài chỉ điểm vào xà lim, cho ở chung với mình. Những ngày mới bị bắt con người cảm thấy cô đơn vô cùng. Thế là những bí mật anh ta cắn răng không khai với địch thì lại khai thông thốc với tên chỉ điểm trong những câu chuyện tâm tình.

Trời tối lúc nào không biết. Sau cái chạng vạng nhập nhòa, không rõ của trời hay của xà lim, ngọn đèn trong lưới sắt bừng sáng. Dưới ánh sáng điện trông anh tù cũng không đến nỗi gớm ghiếc cho lắm.

Cửa lại mở, lần này không có tiếng động dữ dằn như lúc tôi mới vào. Viên cai ngục nông dân đứng trong khung cửa, cái áo bông của tôi vắt ngang tay:

– Anh!

Tôi hỏi lại:

– Tôi hả?

Anh ta gật đầu, đưa cho tôi cái áo bông:

– Anh mặc vào rồi đi với tôi.

Tôi uể oải xỏ giày, đi theo anh ta.

Chúng tôi đi lặng lẽ trong một cái sân hẹp và tối, qua mấy ngôi nhà dài kiểu trại lính, từ trong đó bay ra tiếng người rì rầm như một tổ ong, qua một xưởng thợ ngổn ngang sắt thép rồi bước vào một ngôi nhà lớn. Trong một góc tối leo lét mấy ngọn đèn màu mắc trên một cành thông. Từ xó tối đó một cái loa vô hình rền rĩ:

Hồng hà mênh mông trôi cát tới chân làng quê…
Cuối í í sông… ngoài bến Việt Trì có những chàng áo nâu về…
Say mê đồng lúa…
Vui tràn trề.ề….

Ánh đèn mờ mờ cho thấy nơi này có một hành lang ngắn, một cái ngách, với hai dãy cửa. Tôi đoán đây là khu tù binh. Người ta không chiều tù nhân Thiên chúa giáo bản xứ tới mức tha vào đây cho họ một cây thông. Lại càng không để ý tới chuyện cho họ một chút âm nhạc đang phát ra kia, từ một máy ghi âm cà khổ. Dây cu-roa máy đã rão lắm, nó chạy èo ẽo làm cho bài ca trữ tình trở thành não nuột. Không biết họ sẽ cho tù binh Mỹ mừng Noen theo cách nào đây? Chẳng lẽ lại điệu từng tên ra, cho nó đi những bước dè xẻn quanh cái cành thông nhà quê kia một lát, cho nó hưởng khúc nhạc thê lương kia một lát, rồi điệu về, nhường chỗ cho tên khác? Xem ra với cung cách này lễ Thiên chúa Giáng sinh cho tù binh chắc hẳn được làm đúng như vậy. Thật buồn cười.

Kể từ 5 tháng 8 năm 1964, khi những máy bay Mỹ lần đầu xâm phạm vùng trời miền Bắc Việt Nam đã có không ít phi công Mỹ bị bắt làm tù binh, mở đầu danh sách là Anvarez lừng danh thế giới. Ngoài số phi công bị bắn rơi trên miền Bắc kể từ khi có cuộc leo thang bằng không lực trên miền Bắc Việt Nam, còn có nhiều tù binh Mỹ khác. Ðó là tù binh thuộc các binh chủng khác của quân đội Mỹ từ các chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia được đưa về giam tại các trại bí mật nằm rải rác trên miền Bắc.

Bài báo cuối cùng của tôi về cuộc đánh bom của Mỹ vào khu vực dân cư phố Hàng Thao Nam Ðịnh chắc đã lên khuôn. Hai hôm trước tôi đã ký bông1 lần ba. Liệu bài báo có bị bỏ đi không, khi tôi bị bắt? Còn cuốn Năm Người Im Lặng ở Nhà xuất bản Văn Hóa nữa? Cho dù là sách dịch, chưa chắc người ta đã cho nó ra2. Vợ con tôi thế là mất đứt khoản nhuận bút.

Ðã thành một cái lệ – người cầm bút trong xã hội xã hội chủ nghĩa phải là người có lý lịch rõ ràng, trong sạch, có lập trường vững vàng, có thâm niên càng cao trong tổ chức3 càng tốt. Các nhà xuất bản tuyệt đối không in tác phẩm của những phần tử có vấn đề. Thậm chí có người đã tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng chỉ vì dính líu ít nhiều với các văn nghệ sĩ có vấn đề là đã không được in sách, đăng báo nữa rồi. Số phận nhà văn Thanh Châu trong nhóm Tiểu Thuyết Thứ Bảy trước cách mạng là một thí dụ. Anh không bị chính thức coi như thuộc nhóm Nhân văn – Giai phẩm, nhưng vì quan hệ với Nhân văn – Giai phẩm Thanh Châu bị treo bút. Cho đến lúc được phép viết thì anh đã cao tuổi mất rồi, đã xuống sức mất rồi.

Kim Lân may mắn thoát nạn trong cái đận Nhân văn – Giai phẩm. Anh khôi hài nói rằng sau vụ này hết thảy nhà văn đều xây xát, chỉ có các cung văn4 là lành lặn.

Nếu tôi bị bom chết trong chuyến công tác Nam Ðịnh chắc hẳn sẽ có một điếu văn thống thiết rằng sự hy sinh của tôi là một tổn thất to lớn không thể nào đền bù được cho gia đình và cơ quan, còn tôi trở về nguyên vẹn để bị bắt thì người ta lại uốn ngược lưỡi nói rằng tên phản động Vũ Thư Hiên mà ta theo dõi từ lâu đã bị tống giam.

Từ vài năm nay lòng trung thành của tôi đối với cách mạng bị đặt dưới sự soi mói khắc nghiệt. Câu chuyện có nguyên ủy của nó. Năm 1958 tôi từ Liên Xô về nước để lấy tài liệu cho đề tài thi tốt nghiệp khoa kịch bản thì ở trong ký túc xá sinh viên, một ông bạn họa sĩ cùng sang học với tôi một chuyến đã lục lọi đồ đạc của tôi để lấy cuốn nhật ký đem nộp sứ quán. Cuốn nhật ký ghi những kỷ niệm trong chuyến về Việt Nam năm 1957 với nhà quay phim xô-viết Reizman để thực hiện bộ phim Ánh Sáng Tháng Mười, trong đó tôi có những nhận xét xấu về Cải cách ruộng đất, về ông Hồ Chí Minh. Cuốn nhật ký lập tức được gửi về Bộ Công an5.

Nghe nói Nguyễn Văn Kỉnh trước Cách mạng Tháng Tám cũng là một trí thức ở Nam bộ, được nhiều người mến mộ. Nhưng trong việc chỉ đạo ông bạn họa sĩ đảng viên ăn cắp nhật ký của tôi, Kỉnh tỏ ra còn có khiếu làm mật thám, là điều không ai biết. Thời ấy năng khiếu mật thám được coi là một năng khiếu đáng được khuyến khích. Tôi bị Lê Văn Rạng, vụ trưởng Vụ Ðại học và Trung học chuyên nghiệp, một tay trí thức bảo hoàng hơn nhà vua, giữ lại ở trong nước. Việc tôi có trở lại Liên Xô học tiếp hay không sẽ được xét sau.

Tôi trở về Xưởng phim Việt Nam. ê đó được gần một năm tôi phải bỏ nghề điện ảnh vì không chịu nổi tên trưởng phòng tổ chức vốn là thư ký đội Cải cách ruộng đất. Tên hãnh tiến này gọi tôi lên gặp y rồi vặn tôi: “Cả xưởng chào tôi, tại sao anh không chào?”.

Tôi lễ phép hỏi tên y, rồi cũng lễ phép như thế tôi thưa với y rằng rất có thể y quan trọng, y có ích, tôi biết, tựa như cái cột đèn vậy, không có nó điện không vào nhà được, tôi sẽ không có ánh sáng để đọc. Nhưng, tôi kính cẩn thưa tiếp, không phải vì thế mà tôi sẽ dừng lại trước mỗi cái cột đèn để chào nó.

Tôi sang nghề báo. So sánh các tờ báo muốn nhận tôi, tôi thấy báo ảnh, hay còn gọi là họa báo Việt Nam, hợp với tôi hơn cả. Nó là tờ báo chủ yếu dành cho độc giả nước ngoài, bài vở không nhất thiết phải viết theo công thức của các báo trong nước. Hơn nữa, mấy anh trong bộ biên tập báo ảnh mến tôi qua những truyện ngắn và bài báo đã đăng, chèo kéo bằng được tôi về với tờ báo của các anh.

Trong những cuộc đụng độ lặt vặt kiểu như chuyện xảy ra với anh chàng tổ chức Xưởng phim tôi không thể tránh được những câu nói lẽ ra không nên nói do bực bội. Cơ quan tổ chức, cũng như cơ quan công an, rất mẫn cán thu thập thông tin về thái độ chính trị của cán bộ. Chỉ cần anh ăn nói không giữ gìn một chút, để lộ ra những suy nghĩ không theo dòng chính thống, là tội của anh lập tức được ghi nhận, anh bắt đầu bị theo dõi mà không biết. Cho tới ngày anh chợt nhận ra mình bị theo dõi thì đã muộn – anh đã bị ném khỏi boong con tàu cách mạng.

Còn nhớ năm 1961, mọi người trong tòa soạn đã được nhận Thẻ nhà báo rồi mà mãi tôi chưa được nhận. Tôi chỉ ngạc nhiên tí chút, cho rằng những cái bàn giấy quan liêu bao giờ mà chả thế, chúng không vội vã trong bất cứ việc gì. Tòa soạn gọi điện thoại hỏi. Người ta nói ảnh của tôi bị thất lạc. Tôi đưa tiếp ảnh khác. Vẫn không xong. Hóa ra không phải chuyện mất ảnh. Chỉ sau khi chủ nhiệm tờ báo đích thân lên Sở báo chí kiện cáo thế nào không biết, tôi mới được nhận thẻ. Bây giờ nghĩ lại mới biết chẳng qua người ta ngần ngại, người ta còn phải xin ý kiến trên, bởi vì tên tôi nằm trong một danh sách nào đó đòi những người trực tiếp quản lý các nhà báo phải suy nghĩ. Cấp trên trực tiếp của tôi chắc chắn chẳng khó chịu với tôi, nhưng vào hồi ấy chẳng ai muốn chịu trách nhiệm về ai hết.

Sau vụ này tôi bắt đầu để ý đến thái độ của lãnh đạo, tức là các quan chức cấp trên của tôi, ngang cũng như dọc. Mới thấy rằng trong công việc hàng ngày người ta tránh không phân công tôi làm những đề tài có dính tới bí mật quân sự hoặc những bí mật khác. Mà bí mật trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì lại quá nhiều, cái gì cũng bí mật, thành thử tôi chỉ được phân công đi các địa phương khi cần có các bài về văn hóa, nông nghiệp, công nghiệp hoặc ngồi nhà làm công việc chữa cháy cho các số báo chẳng may bị ông Trường Chinh, người khai sinh ra tờ báo, bất ngờ gạch bỏ một bài, thậm chí vài bài một lúc6.

Ðến lúc thấy mình không có tên trong danh sách những nhà báo được cử đi B7 thì tôi mới biết chắc chắn rằng cái sự cảnh giác cách mạng đã được áp dụng cho tôi rồi. Chả trách đợt vào Vĩnh Linh công tác, khi tôi muốn ra Cồn Cỏ thì bị người ta từ chối khéo. Hòn đảo nhỏ bé lúc ấy đang cô độc chiến đấu chống lại những cuộc tấn công bão táp của hải quân Mỹ. Như bất cứ nhà báo nào tôi muốn có mặt ở đó. Nguyễn Khải8 ở Vĩnh Linh cùng thời gian với tôi. Anh ra được Cồn Cỏ còn tôi thì không. Tàu đi Cồn Cỏ chỉ có một chỗ dành cho văn nghệ sĩ, mà anh Nguyễn Khải đã đăng ký từ lâu rồi, người ta nói thế.

Những tin tức rò rỉ từ Bộ Nội vụ cho biết tôi nằm trong diện không đáng tin cậy. Từ diện không đáng tin cậy sang diện có vấn đề chỉ là một bước, mà bước không dài. Các bạn tôi nhắc tôi phải thận trọng, phải giữ gìn lời ăn tiếng nói. Nghe thì nghe, chứ trong thâm tâm tôi không tin hẳn, chẳng lẽ người ta lại có thể nghĩ bậy bạ đến thế?

Mọi việc chỉ sáng tỏ khi tôi đã ở trong Hỏa Lò: thì ra từ lâu rồi tôi đã bị nhà cầm quyền nghi ngờ. Họ thậm chí còn lo tôi sẽ chạy sang bên kia chiến tuyến khi gặp cơ hội thuận tiện nữa kia.

Tôi cay đắng được biết sự thật. Tôi coi cuộc kháng chiến chống Mỹ, do những điều kiện lịch sử bó buộc, là bước kế tiếp, lần này là bất đắc dĩ, trong hành trình giải phóng dân tộc. Nguyện vọng thống nhất đất nước bao giờ cũng là nguyện vọng của toàn thể dân tộc.

Ngô Ðình Diệm đã sai lầm khi chủ trương đàn áp mọi xu hướng khác ông ta, chứ không riêng cộng sản, bằng những biện pháp phong kiến, gia đình trị. Trong tình thế đó những người cộng sản không thể không đứng lên chống lại, kéo theo sau mình quần chúng bất bình. Sự chống đối chính quyền Sài Gòn còn mạnh mẽ hơn nữa khi những người cầm quyền sau Ngô Ðình Diệm đã để cho người Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam Việt Nam. Người Mỹ tự thị đã đi lầm nước cờ. Dân tộc Việt Nam có truyền thống chống ngoại xâm, là điều người Mỹ không biết và khi hiểu ra thì đã muộn. Sau năm 1965 người ta không thể trở về với năm 1954, cho dù có muốn.

Ðây là đề tài thuộc thẩm quyền các sử gia, tôi không dám lạm bàn. Nhìn cuộc chiến từ góc độ người làm báo tôi cho rằng trong suốt thời gian chiến tranh không phải hoàn toàn không có cơ hội để thoát khỏi nó, và trong chuyện không muốn tìm cơ hội thoát ra lỗi không phải ở một bên, mà ở cả hai phía.

Nhưng thôi, ta quay lại với Hỏa Lò mùa đông năm 1967 cái đã.

Ði qua khu tù binh, viên cai ngục nông dân đưa tôi tới một ngôi nhà dài phía trái cổng Hỏa Lò, có rất nhiều cửa. Phòng hỏi cung là một trong những căn ở đây. Nó là một phòng nhỏ, chừng mười sáu thước vuông, không hơn, được chiếu sáng một cách hà tiện bởi một bóng điện 60 oát.

Huỳnh Ngự đã chờ sẵn. Thấy tôi bước vào, y ngẩng lên. Mặt nhẹ nhõm, không hằn học, không căng thẳng, trông y thật hiền lành. Khó tưởng tượng được vừa mới đây y còn hầm hè với tôi như với kẻ thù của cá nhân y chứ không phải của Ðảng.

– Ngồi xuống, ngồi xuống đây, anh Hiên! – y vồn vã chỉ cho tôi ghế đối diện – Anh dùng trà, hỉ?

Phòng hỏi cung được bày biện như một phòng khách nghèo – mấy cái ghế ba nan quây quanh một bàn nước chân quỳ. Trên bàn là một ấm men rạn bắt chước đời Lý, không hợp chút nào với mấy chén sứ Hải Dương rẻ tiền. Bộ đồ trà được đặt trong một đĩa sắt tráng men sứt sẹo với mấy con tôm Tề Bạch-thạch bạc màu. Mặc dầu đã có áo bông, tôi vẫn run rẩy – nhiệt độ xuống quá nhanh, buổi sáng trời còn ấm, vậy mà bây giờ đã lạnh dữ. Căn phòng hỏi cung còn lạnh hơn cả xà lim, lại có mùi gỗ mốc, như thể nó bị bỏ hoang lâu ngày.

Huỳnh Ngự bốc trà cho vào bình, tỉ mẩn nhặt từng cánh trà rơi xuống mặt bàn, rồi từ tốn với tay lấy cái phích Trung Quốc, từ tốn chế nước sôi, đợi một lát cho trà thật ngấm mới chuyên chậm chậm vào hai chén. Cung cách pha trà cho thấy y là tay nghiện trà nặng, như mọi cán bộ đứng tuổi hồi bấy giờ.

Tôi lặng thinh quan sát.

– Uống đi, anh Hiên! – y chìa bàn tay gày, với những ngón dài, xương xẩu về phía tôi – Kẻo nguội.

Tôi vẫn nín lặng.

– Tiết trời như ri uống trà thiệt thú vị, phải không? Anh dùng đi, tự nhiên nghen. Anh thấy đó, ở ngoài nhìn vô ai cũng nghĩ cái sự bị bắt, cái sự ở tù nó ghê gớm lắm lắm kìa, khủng khiếp lắm lắm kìa, chớ thiệt ra thì, hì hì… có chi ghê gớm lắm mô…

Y đẩy chén trà về phía tôi.

– Tác giả “Chiếc va-li” đã báo trước cho anh biết anh sẽ bị bắt, phải không? Hắn còn nói với anh những chi nữa, hè?

Ðó là Huỳnh Ngự nói về Hoàng Ðạo9. Tôi không ngạc nhiên. Y muốn khoe y biết hết, đừng hòng giấu y điều gì.

Ðúng là Hoàng Ðạo có báo trước cho tôi điều sẽ xảy ra.

Tôi gặp Hoàng Ðạo tuần trước. Tôi không chủ bụng tới anh, tiện thể đi ngang phố Nguyễn Chế Nghĩa thì rẽ vào. Anh có căn nhà nhỏ ở đó. Từ phòng ngoài nhà anh nhìn ra tôi vẫn thấy thấp thoáng bóng mấy công an mật lởn vởn trong ánh sáng vàng vọt rỉ ra từ những chao đèn phòng thủ.

“Họ sẽ bắt anh, Hoàng Ðạo nói. Hôm nọ tôi có việc rẽ vào Bộ, thấy căng lắm. Còn bắt nhiều. Tôi thì chỉ quan tâm tới anh thôi”. Tôi cười: “Vậy thì bỏ rượu ra, chúng ta uống một trận chia tay”. Tôi cố ý nhắc lại câu Hoàng Ðạo nói với một sĩ quan Phòng Nhì Pháp trong một lần tính mạng anh ở vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Anh vào Hà Nội dưới vỏ bọc đảng trưởng đảng Ðại Việt. Tình báo Pháp hoan hỉ đón tiếp anh. Rồi muốn kiểm tra anh, giữa đêm hôm khuya khoắt họ cho viên sĩ quan Phòng Nhì nói trên, người vẫn xưng là bạn thiết của anh, lẻn đến nhà anh báo tin anh sắp bị bắt, khuyên anh trốn ngay. Hoàng Ðạo không mắc mưu. Anh cười ngất, nói anh cảm ơn, nhưng anh sẽ không trốn, dấn thân vào nghiệp chính trị anh đã dự kiến tình huống này, những người Pháp đa nghi rồi sẽ ân hận, còn bây giờ anh muốn uống ly rượu chia tay với người anh coi là bạn. Bài toán thử của tình báo Pháp thất bại. Sau thái độ cứng rắn của anh họ cho rằng họ nhầm.

Chúng tôi dẹp mọi chuyện qua một bên, bàn tiếp việc viết kịch bản cho bộ phim về hoạt động của tổ điệp báo do anh chỉ huy, kết thúc bằng vụ đánh đắm thông báo hạm Amyot d’Inville tại ven biển Thanh Hóa năm 1950. Ý định này có từ lâu, khi tôi còn ở Moskva. Hoàng Ðạo và tôi vẫn thư từ cho nhau để bàn về bộ phim tương lai.

Khi điệp vụ được thực hiện, Hoàng Ðạo là trưởng ty công an Thanh Hóa. Anh bố trí một chiến khu giả tại Ngọc Lặc (miền Tây Thanh Hóa), rồi vào Hà Nội với tư cách người chủ của chiến khu. Lãnh tụ giả mạo của một đảng không có thật vượt qua được thử thách của tình báo Pháp, trở thành bộ trưởng không bộ nào của chính phủ Bảo Ðại. Trong thời gian ở lại trong vùng địch Hoàng Ðạo đã gặp Ngô Ðình Diệm, Năm Lửa, Ba Cụt, Bẩy Viễn… và nhiều nhân vật chính trị ở miền Nam. Sau khi biết chắc người Mỹ có ý định dùng con bài Ngô Ðình Diệm thay thế Bảo Ðại, Hoàng Ðạo đề xuất với Trung ương cho phép anh thủ tiêu Ngô Ðình Diệm để thế chân ông ta. Kế hoạch của anh bị Trường Chinh gạt đi. Trường Chinh kịch liệt phê bình điệp vụ này, nói rằng việc Hoàng Ðạo tổ chức chiến khu giả ở Thanh Hóa làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của chính phủ kháng chiến, lợi bất cập hại. Ông còn nói Hoàng Ðạo là người ham mê tửu sắc, nếu làm việc với Mỹ sẽ bị Mỹ mua chuộc, “đến lúc ấy đánh nhau với nó còn khó hơn đánh nhau với Ngô Ðình Diệm nhiều”10. Hoàng Ðạo nhận được lệnh kết thúc điệp vụ, trở về vùng tự do. Việc đánh đắm thông báo hạm Amyot d’Inville là hành động cuối cùng của tổ điệp báo trước khi rời bỏ trận địa.

“Anh không thể xử nhũn một chút được sao? – Hoàng Ðạo hỏi khi tôi ra về – Anh dây vào chính trị làm chi?”. “Không được, anh ạ. Tôi không quan niệm nói ra ý kiến của mình là dây vào chính trị. Tôi không làm điều gì sai trái. – tôi nói – Tôi chỉ có tội cho rằng con người có quyền tự do tư tưởng”. Hoàng Ðạo ôm lấy tôi. Chúng tôi bùi ngùi chia tay.

– Anh không muốn nói cũng không sao. – Huỳnh Ngự nói bằng giọng khinh khỉnh – Chuyện Hoàng Ðạo chẳng có gì quan trọng. Không phải đối tượng đáng chú ý. Cũng không phải người chúng tôi cần anh báo cáo. Nhân tiện thì tui hỏi cho biết, tức là chúng tui biết hớt, nhưng chúng tui muốn nghe anh nói coi ra răng. Những chuyện khác cũng rứa. Anh thích nói thời nói. Không thích thời thôi. Tui sẽ chờ. Bao chừ giác ngộ tự anh sẽ nói. Cơ quan an ninh chúng tui rất kiên nhẫn.

Tôi tưởng y sẽ nói thêm: “Chúng tôi sẽ chờ năm năm mười năm, hai mươi năm, hay lâu hơn nữa” theo cách ông Hồ Chí Minh nói với người Mỹ. Hình như y định nói thế thật, nhưng kìm lại được.

– Nói thiệt cho anh hay để anh đừng sợ, Ðảng đưa anh vô nơi ni là để ta có chỗ mần việc cho thuận tiện mà thôi. – Huỳnh Ngự nhe răng trong nụ cười không thành tiếng – Ðảng muốn hỏi anh một số việc, hỏi xong thời cho anh về, Ðảng cũng không giữ anh mần chi. Ngoài tê anh công tác phục vụ Ðảng, phải không nào? Nơi ni anh cũng vẫn mần việc đó, không có chi khác. Anh là cán bộ của Ðảng, phải biết chấp hành mịnh lịnh của Ðảng. Bữa ni Ðảng biểu anh mần việc ở nơi ni thì anh mần việc nơi ni. Mai mốt Ðảng biểu anh vô Nam thì anh vô Nam, còn khi mô Ðảng biểu chừ phải qua Liên Xô thì anh xách va li qua bển. Vậy đó, thanh niên phải như rứa, hè hè, nơi Ðảng cần thanh niên có, nơi khó có thanh niên…

Ngon lành chưa! Cứ như thể nay mai Ðảng sẽ cử tôi đi công tác Moskva, hoặc xa hơn nữa, tới Paris hoặc New York chửa biết chừng.

Mặc cho y ba hoa, tôi đủng đỉnh nhấp trà. Trà ngon. Không phải ai cũng pha trà Hồng Ðào11 được thế này. Té ra Huỳnh Ngự cũng sành uống trà ra phết.

– Tui nói vậy là trúng chớ? Không trật chớ? – y nói bằng giọng tin chắc ở lẽ phải mà y đang ngồi ở trên – Vậy, chừ Ðảng chỉ thị cho anh ở nơi ni, vị trí chiến đấu của anh lúc nầy là ở nơi ni, anh hãy yên tâm phục vụ ở vị trí mới. Chỉ thị của Ðảng là cái mà chúng ta, những cán bộ của Ðảng, chỉ có việc tuân theo…

Một con cừu trong đàn cừu Panurge, tôi nghĩ. Kết quả sự hoài thai kỳ cục giữa các thứ chủ nghĩa: chủ nghĩa Mác bị chặt đầu, chủ nghĩa Mao động dục, chủ nghĩa phong kiến hiện đại.

Trong yên lặng tôi nghe tiếng mấy con sẻ rên rỉ vì rét trên mái nhà. ê đâu đó, từ một thế giới khác, vẳng tới tiếng xe tải nặng lăn bánh trên đường. Mà cũng có thể là xe bọc thép. Những chuyến xe nối tiếp nhau không ngớt, ì ì ầm ầm.

Huỳnh Ngự mời tôi uống tiếp. Tôi nhã nhặn nâng chén, chờ y rót thêm.

– Nào, uống xong ta mần việc! – có vẻ ấm trà ngon làm cho Huỳnh Ngự cảm thấy sảng khoái và rộng lượng – Anh không thấy sao, trong ni cũng bảnh chẳng kém chi ngoài tê, hả? Cũng Hồng Ðào loại một, cũng Ðiện Biên12 bao bạc như ai. Anh hút đi, khi ta mần việc trên cho trà thuốc thoải mái. Tiêu chuẩn, chớ không phải của tôi đâu. Phải nhịn thuốc cả ngày, khó chịu lắm hè?

Tôi nhìn bao thuốc y đẩy tới trước mặt. Chao ôi, giá mà được rít một hơi lúc này nhỉ, chỉ một hơi thôi! Tôi cảm thấy một cơn thèm ghê gớm không sao cưỡng nổi chạy râm ran trong cơ thể.

– Cảm ơn. – tôi nói – Tôi không hút.

Y ngả hẳn ra trên ghế để nhìn tôi, theo cách người viễn thị.

– Ủa? Anh mà không hút.

– Thì có gì lạ đâu?

Huỳnh Ngự làm mặt giận:

– Tui mời thiệt tình mà. Bộ anh giận hả?

– Cảm ơn. Tính tôi thế, đã không hút là không hút.

– Mà sao vậy chớ? Hay là anh chê thuốc Ðiện Biên của ta không ngon bằng Gold Flake? Cánh văn nghệ sĩ các anh khoái Gold Flake lắm thì phải? Hồi ấy ở Hà Nội thuốc lá ngoại chỉ có độc một thứ Gold Flake. Ðồn rằng nó lọt ra từ sứ quán Indonesia. Việt Nam đang ra sức lấy lòng người hùng Suharto sau sự sụp đổ bất ngờ của cái gọi là lực lượng mới trỗi dậy và ghế tổng thống suốt đời của Sukarno, cố tình lờ đi chuyện nhân viên sứ quán Indonesia buôn lậu13.

Cái ghế kêu cọt kẹt dưới tấm thân gày còm của Huỳnh Ngự.

– Tôi không chê Ðiện Biên. Nhưng tôi không hút.

– Chà, anh Hiên nè, anh coi thường cơ quan an ninh hơi nhiều đó! – mặt Huỳnh Ngự toác ra trong nụ cười khoái trá – Anh nghĩ tụi tui biết về anh quá ít thì phải?

Tiếng cười khanh khách của y làm tôi nóng mặt.

– Tôi chẳng coi trọng mà cũng chẳng coi thường cơ quan an ninh. Tôi cũng chẳng quan tâm chuyện các anh biết về tôi nhiều hay ít. Tôi không có thời giờ để nghĩ vớ vẩn.

Huỳnh Ngự nghiêm nghị trở lại.

– Nè, nói cho anh hay, trước khi bắt một người tụi tui nghiên cứu về người đó rất kỹ. Tui biết mọi khuyết tật của anh, mọi thói quen của anh. Tui biết anh ghiền thuốc lá, mà còn ghiền nặng nữa kìa.

Ðến lượt tôi bật cười.

– Thế thì không đúng rồi. Tôi chưa bao giờ liệt mình vào loại nghiện nặng.

– Chẳng ai bắt bẻ anh chuyện ghiền thuốc hay không ghiền thuốc. Có chi mà phải chối!

– Hút thuốc lá đến độ bỏ điếu này ra phải nạp ngay điếu khác vào, không thì không chịu được mới là nghiện nặng. Tôi có hút nhưng chưa nghiện tới mức đó.

– Anh bắt đầu hút từ năm nào nhỉ?

– Từ năm tôi mười sáu.

Chẳng có cuốn trinh thám nào viết về sự hỏi cung kỳ cục như thế này. Không có lấy một dụng cụ tra tấn nào – không một cái magnéto, không một sợi thừng, không một cái roi, không một móc xích lủng lẳng trên trần.

– Sớm quá, hút thế sớm quá! – Huỳnh Ngự lắc đầu – Thuốc lá có hại lắm, chẳng nói anh cũng biết. Ung thư phổi, ung thư vòm họng từ đó mà ra. Ðể coi, bao nhiêu phần trăm người hút thuốc bị ung thư hè? Tui có đọc mà không nhớ. Nhưng hút chút chút thì không sao. Tui lâu lâu cũng hút một điếu, ghiền thì không, tui không ghiền.

Thì cứ nói chuyện chơi với thằng cha này một lát xem y định dẫn câu chuyện tới đâu? Một nghệ thuật hỏi cung độc đáo? Buồn cười, y trẻ con quá!

– Hồi ấy chúng tôi đói. – tôi dịu giọng – Hút thuốc quên đi được phần nào cảm giác khó chịu.

– Nói chi lạ? Anh mà đói?

– Anh người Khu 5, phải không?

Huỳnh Ngự cau mặt. Y bỏ điếu thuốc ra khỏi cặp môi thâm.

Tôi chợt hiểu – y bị chạm nọc. Trong số những người từ bên kia vĩ tuyến 17 tập kết ra Bắc theo Hiệp nghị Genève, Khu 5 đông hơn cả. Ngoài cán bộ và gia đình họ, còn có một đám lúc nhúc tù hình sự được tập kết theo. Người ta nói Khu ủy Khu 5 sợ không đưa tù theo chúng sẽ chạy theo địch. Trong lúc công tác đón tiếp cán bộ tập kết diễn ra lộn xộn, chẳng hiểu sao bọn tù lại được thả ra, thậm chí còn được bố trí công tác, phần đông sung vào ngành thuế và quản lý thị trường, gây nên nhiều tiếng tăm không đẹp. Nói chung, hồi ấy cả dân Bắc lẫn dân Nam bộ tập kết đều có định kiến rất xấu với dân khu 5.

– í tôi muốn nói ở chiến trường Liên khu 5 các anh không bị đói, – tôi nói chữa, trong lòng ân hận cảm thấy mình thiếu tế nhị – chứ ngoài này năm 1949 là năm bộ đội chúng tôi bị đói nhất, sắn không có mà ăn…

Tôi đã làm cho y hiểu tôi không có ý nói xỏ, nhưng mặt y vẫn lạnh như băng. Y không muốn nghe chuyện tôi đã ở trong quân ngũ, chắc thế. Rất có thể, trước đây y cũng từng ở bộ đội như phần lớn cán bộ kháng chiến, nhưng lúc này đây y không muốn thấy giữa tôi và y có cái gì đó giống nhau, là cái làm nhòa đi ranh giới giữa viên cán bộ chấp pháp và tên tù đang bị hỏi cung. Tuy nhiên, chuyện tôi đã ở bộ đội là sự thật không thể bác bỏ. Y nói y nghiên cứu kỹ lý lịch tôi, thế tất y phải biết điều đó.

Nhưng rồi y cũng lấy lại sắc mặt bình thường:

– Anh không có thuốc hút là tại tui. – y nói như thể phân trần – Anh nào ghiền vô đây cũng có tiêu chuẩn thuốc lá như khi ở ngoài. Tui mắc nhiều công chuyện quá. Lẽ ra anh phải có thuốc ngay mới đúng. Thôi được, cứ hút tạm thuốc tiêu chuẩn của tui cái đã. Mai mốt rồi tính.

– Cảm ơn. Nhưng tôi đã quyết định thôi không hút nữa.

– Anh tính nhân tiện vô đây cai thuốc luôn, hỉ? Hay đó.

Tôi lắc đầu:

– Không phải. Chẳng qua là thế này: tôi không muốn trở thành một Ngô Ðức Trì14.

Huỳnh Ngự đang uống dở ngụm nước, y ngưng lại, đặt mạnh chén xuống bàn. Cái nhìn soi mói xoáy chặt vào mắt tôi:

– Anh vừa nói đứa nào? Thằng Trì nào?

Ðến lượt tôi ngạc nhiên. Chẳng lẽ y, vụ phó một bộ quan trọng là Bộ Nội vụ, chẳng gì cũng là một cán bộ có cỡ, lại không biết Ngô Ðức Trì là ai.

– Thế này, Ngô Ðức Trì là ủy viên Trung ương Ðảng vào thời kỳ trước khi Mặt trận Bình dân vỡ…

Y nhíu lông mày nhìn tôi.

– Khi bị Pháp bắt, bị tra tấn, – đành phải giải thích cho y vậy – Ngô Ðức Trì đã bán đứng cho Pháp một số cơ sở của Ðảng để đánh đổi lấy một lần gặp vợ và, thật khó tưởng tượng nổi, để được chúng cho… hút thuốc lá. Giữa hai thứ mà Ngô Ðức Trì đem mạng sống của các đồng chí ra đánh đổi tôi không rõ cái nào quan trọng hơn: vợ hay thuốc lá? Có người nói Ngô Ðức Trì phản bội vì thèm mụn con trai nối dõi tông đường…

Ẩn ý của câu nói thật dễ đoán. Huỳnh Ngự ném cho tôi một cái nhìn bốc lửa. Tôi nghĩ y sẽ nổi khùng, sẽ quát nạt, nhưng không, y tỏ ra biết tự kiềm chế.

– Anh ngồi ngay ngắn lại

Tôi quan sát tư thế của mình – tôi vắt chân chữ ngũ theo thói quen, cái áo bông để hở làm lộ ra cái áo tù không cài cúc. Tôi bỏ chân xuống.

– Thế này được chưa?

– Nghe đây! – y dằn giọng – Hôm nay tôi cho gọi anh ra trước hết là để phổ biến cho anh nội quy trại giam.

– Tôi đang nghe.

– Thứ nhất, kể từ bây chừ, khi anh đã nằm trong trại giam thì quyền công dân của anh không còn nữa, quyền đó tạm thời bị tước bỏ, anh không được phép kêu cán bộ thực hành pháp luật ở nơi ni, từ cán bộ chấp pháp cho tới bộ đội gác trại bằng đồng chí! Với bất kỳ công dân nào khác là người tự do cũng vậy…

Cái sự tung hứng ngôn từ và đánh tráo khái niệm được thực hiện tuyệt vời ở mọi lĩnh vực, mọi nơi chốn, không trừ cả trại giam! Những khái niệm còn đó cả nhưng đã rỗng ruột. Các ngôn từ vẫn bay lượn, nhưng chỉ là những cánh diều giấy mà sợi dây nằm trong tay nhà cầm quyền.

Chao ôi, tôi, kẻ bị bắt cóc giữa đường đưa thẳng vào xà lim mà gia đình không được báo, bản thân không biết bị kết tội gì, mà còn có quyền công dân nữa cơ đấy!

Tôi có nghe kể trong trại giam tù nhân phải gọi cán bộ trại bằng ông, bằng bà15. Tôi không tin. Thì ra không phải chuyện bịa. Cách quy định về xưng hô này bắt nguồn từ thời kỳ Cải cách ruộng đất. Hồi đó, để hạ nhục các đối tượng của cách mạng, cán bộ đội Cải cách ruộng đất bắt địa chủ, phú nông phải gọi bất cứ ai là người tự do bằng ông, bằng bà: ông đội, bà đội, ông nông dân, bà nông dân….

Vợ tôi hiện nay là người tự do. Nếu bây giờ tôi được gặp vợ thì, theo đúng cái quy định quái gở kia, tôi cũng phải lễ phép chào vợ: chào bà ạ!

Vui thật!

Tôi bật cười. Thái độ hách dịch của Huỳnh Ngự không làm tôi sợ y, mà ngược lại, làm tôi thấy dễ chịu. Y quát nạt, có nghĩa là y thấy cần phải trấn áp, y thấy y không thể chiến thắng dễ dàng. Tôi nói:

– Chà, chẳng hóa ra tôi đã thực hiện đúng nội quy của các anh ngay cả khi chưa được nghe anh phổ biến hay sao? Từ khi gặp anh tôi chưa một lần gọi anh bằng đồng chí, có đúng thế không nào?

– Hừm. – y xác nhận với vẻ mặt chưng hửng.

– Không phải tôi nghe ai nói hoặc thông minh mà đoán ra đâu. Chẳng qua, nói thực với anh, tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng, trong gia đình chúng tôi hai tiếng đồng chí được coi là rất thiêng liêng, tôi đã thấy vì tình đồng chí những người cách mạng sẵn sàng hy sinh cả tính mạng mình…

– Hừm.

Huỳnh Ngự tím mặt. Y lúng túng, không biết nên xử sự thế nào khi thấy tôi đối đáp bằng giọng điềm đạm như thế. Lẽ ra nên kết thúc, y lại ngu xuẩn kéo dài cuộc đối thoại:

– Không những không được xưng hô đồng chí, mà anh còn phải kêu cán bộ tụi tui bằng ông hoặc bằng bà…

Hoàn toàn bất ngờ đối với y, tôi đã sẵn sàng để đập lại.

– Một cách xưng hô tuyệt vời, thưa ông! – tôi nói, còn vui vẻ hơn trước – Thú thực, tôi vui mừng được biết ngành công an, tiếc thay lại không phải ngành văn hóa chúng tôi, đã có công trong sự phục hồi những từ ngữ chết uổng. Kể từ Cách mạng Tháng Tám những từ lịch sự tự nhiên bị ác cảm, bị miệt thị, cứ như thể chúng thuộc về một ngôn ngữ kém cỏi, của riêng giai cấp thống trị. Vô lý, và hơn thế, còn đáng buồn, có phải không ạ? Tôi hoan nghênh sự phục hồi những từ đó. Bản thân chúng vô tội. Ðể mất chúng, tiếng Việt của ta chỉ có nghèo đi, trong khi nó cần được bổ sung càng nhiều cách diễn đạt càng tốt để trở nên phong phú thêm. Hay lắm, hay lắm! Vậy thì thưa ông cán bộ, về phía các ông, các ông sẽ gọi tôi bằng gì?

– Chúng tôi kêu các anh bằng anh chớ bằng cái chi?

– Chết chết, sao lại thế? Gọi như vậy đâu có được?! Như vậy là không công bằng.

Huỳnh Ngự trề môi, cười đểu:

– Bộ anh muốn tui kêu anh bằng ngài chắc?

Tôi nghiêm mặt:

– Nói về xưng hô tôi yêu cầu phải có sự sòng phẳng. Chúng tôi đã lịch sự gọi các anh bằng ông thì về phía các anh tôi yêu cầu các anh cũng phải gọi chúng tôi bằng ông.

Huỳnh Ngự bật khỏi ghế. Y đã mất bình tĩnh.

Từ đầu cuộc nói chuyện, y chơi trò mèo vờn chuột với tôi, đến đây vai trò bị đảo ngược. Y cảm thấy nhục nhã bị tên tù giỡn mặt.

– A, anh láo! Vô tới nơi ni rồi mà vẫn còn láo! Anh…anh dám ví tui với anh hử? Anh dám đặt tui ngang hàng với anh hử? Tui là ai? Tui là người trông coi pháp luật, anh hiểu chưa? Còn anh là ai? Anh là kẻ vi phạm pháp luật. Rứa đó, hiểu chửa? Anh là can…can phạm, anh…anh…là thằng tù! Bình với chả đẳng! Bình đẳng cái con c…tui nè! Ðược, rồi tui sẽ cho anh biết thế nào là bình… bình… bình đẳng! Tui… tui sẽ vặn…vặn cổ anh!

Mặt tôi nóng bừng. Khi có quyền trong tay cái lũ hư đốn này coi người bằng nửa con mắt. Chúng leo lẻo ca tụng những anh hùng cách mạng trước kẻ thù, nhưng không bao giờ chúng thừa nhận có những anh hùng trước mặt chúng.

– Hãy bình tĩnh nghe tôi nói. – tôi bình thản nhìn vào mặt y – Anh bảo tôi là can phạm ư? Ðó mới chỉ là quan điểm của các anh. Của riêng các anh thôi. Chúng tôi có quan điểm của chúng tôi. Nó khác quan điểm của các anh, khác hẳn. Theo quan điểm này chính các anh mới là can phạm. Các anh phạm tội lợi dụng chức quyền tước đoạt những thành tựu của cách mạng. Các anh ngang nhiên vi phạm Hiến pháp, chà đạp những quyền tự do dân chủ của nhân dân…

– Láo!

– Ðừng vội nóng. Rồi đây lịch sử sẽ phán xét tất cả, chính anh sẽ được thấy sự phán xét đó, chính anh cũng sẽ hiểu ra ai đúng ai sai, ai vì nhân dân, ai phản bội nhân dân……

– Câm ngay! Câm ngay lập tức!

Huỳnh Ngự ré lên. Toàn thân y run bần bật. Trong phút chốc mặt y méo xệch, dãi nhểu ra nơi khóe miệng.

Tôi đâm lo. Thằng cha này mắc chứng kinh phong? Tôi sẽ phải làm gì nếu đột nhiên y lăn đùng ra? Trong trường hợp này phải luồn một cái thìa giữa hai hàm răng để bệnh nhân khỏi cắn phải lưỡi, người ta nói thế. Nhưng bới đâu ra một cái thìa bây giờ? Mà y thì đang lên cơn. Tệ hơn, nếu y chảy máu não? Y có thể chết.

Tôi chẳng muốn làm chết một ai. Tôi không muốn trở thành nguyên nhân cái chết của thằng phải gió này.

Luống cuống vì không biết nên làm gì, tôi rót một chén nước đưa cho y.

Nhưng Huỳnh Ngự đã trấn tĩnh lại được. Y gạt mạnh tay tôi ra làm chén nước đổ tung toé.

– Chờ đó! Cái… thứ… cái thứ anh còn…còn ở nơi ni còn lâu! Ðồ…đồ…! Nói trước cho… cho anh hay: cái thứ anh rồi sẽ…sẽ chết rục xương trong Hỏa Lò nầy! – cuối cùng, rồi y cũng nói được thành lời – Anh sẽ được biết thế nào là… là chuyên chính vô sản! Trong Hỏa Lò nầy đến thép cũng phải chảy, nói chi cái thứ ruồi muỗi như anh…

Toàn thân tôi run bắn lên trong một cơn giận không kiềm chế nổi. Giờ y có giãy đành đạch mà chết trước mặt tôi tôi cũng mặc.

– Hừm, cái đó thì còn phải chờ xem!

– Không phải chờ lâu đâu. Láo đến như Hoàng Minh Chính mà vô đây còn phải quỳ mọp xuống xin tha tội kìa!

Y lấy ngón trỏ chọc chọc vào không khí:

– Ðó, hắn ta quỳ chỗ nớ đó!

Tôi cười phá:

– Ðâu, chỗ nào?

– Ðó chỗ tui chỉ đó!

Sao mà một quan chức như y mà ngây thơ đến thế! Chẳng lẽ y nghĩ tôi là đứa trẻ lên ba? Hay là trong đầu y có cái gì không ổn.

Tôi phá lên cười:

– Thú vị quá nhỉ? Vậy thì thưa ông, ông có thể vui lòng cho tôi được thấy cảnh tượng ấy một lần không? Một lần thôi! Tôi quen Hoàng Minh Chính. Tôi biết tính cách anh ấy. Tôi không tin Hoàng Minh Chính lại có thể sa sút tinh thần như vậy. Một con sư tử quỳ gối trước một con chuột? Không, không thể có chuyện đó được.

– A, anh láo hử?! – Huỳnh Ngự kêu choe chóe – Tui…tui bẻ cổ anh bây chừ…

Y lại thở hổn hển, mặt tái nhợt.

Viên cai ngục hốt hoảng chạy vào, theo sau là một anh chàng búng ra sữa, hình như là thư ký của Huỳnh Ngự.

Tôi những tưởng chúng sẽ bổ tới đánh tôi, khóa tay tôi, nhưng chuyện đó không xảy ra. Cả hai đứng sững, ngơ ngẩn nhìn cảnh tượng diễn ra trước mắt.

– Bây giờ các anh hãy nghe tôi nói đây! – hai tay khoanh trước ngực, tôi cao giọng diễn thuyết trước cái cử tọa ít ỏi trời cho – Các anh có tất cả: súng đạn, gông cùm, nhà tù. Còn chúng tôi, chúng tôi chỉ có một thứ: chính nghĩa. Các anh có thể thủ tiêu tôi, tôi biết, nhưng công khai giết tôi thì đến bọn chủ các anh cũng không dám. Nói thật đấy, cho ăn kẹo cũng không dám. Cứ hành hạ thân xác chúng tôi đi, đó là việc trong tầm tay các anh, bởi vì ở đây tôi không có gì để chống lại, nhưng bẻ gãy tinh thần chúng tôi thì không được đâu, đừng hòng.

Huỳnh Ngự rít lên:

– Ðược! Ðược! Rồi anh sẽ biết thế nào là chuyên chính vô sản!

– Tôi đã nói rồi, không muốn nhắc lại nữa: dọa nạt tôi vô ích!

– Tui không thèm dọa anh!

Nổi giận với thằng tay sai này làm gì, tôi tự nhủ. Vô ích. Mà hùng hồn thuyết giáo như vừa rồi, mình không nhìn thấy mình đấy thôi chứ nhìn thấy thì phải đỏ ửng mặt lên vì xấu hổ, phường tuồng ơi là phường tuồng!

Hai anh chàng cấp dưới của Huỳnh Ngự nhìn tôi bằng cặp mắt van lơn, thật lạ. Có vẻ như họ muốn đụng vào tôi, để nhắc nhở chứ không có ý gì khác.

– Vả lại, còn điều này nữa là điều anh chưa biết, và tôi thấy cần phải nói ngay để cho anh biết. – tôi lạnh lùng tiếp – Ðó là: ngay tại chốn này, ngay trong Hỏa Lò của các anh, tôi vẫn còn có quyền của tôi, cái quyền cuối cùng không kẻ nào tước đoạt nổi…

– Anh nói chi lạ? Anh? Mà còn có quyền? Hứ! Quyền, quyền cái con…Chỉ chúng tôi mới là người có quyền, hiểu chưa, đồ…

Máu tôi lại bốc lên mặt:

– Lẽ ra tôi không nói thêm với anh nữa, vì anh lại giở giọng du côn, cho nên tôi phải nói cho anh hiểu…

– Quyền chi mô? Nói coi thử!

Khoanh tay trước ngực. tôi nhìn thẳng vào cặp mắt ngây dại của y:

– Còn cái quyền này: tôi-tuyên-bố-không-nói-gì-với-anh-nữa!

– Tui… tui sẽ… gang họng anh ra, bắt anh phải nói!

Y lại hét, giọng đã đuối.

– Không ăn thua gì đâu. – tôi dằn từng tiếng – Anh chẳng là gì đối với tôi. Ðừng phách lối. Nhờ anh chuyển lời tôi tới bọn chủ của các anh, bảo họ cử người khác đến gặp tôi. Bằng không tôi sẽ không nói gì hết. Các người cần nói chuyện với tôi, không phải tôi cần nói chuyện với các người.

Không thèm nhìn Huỳnh Ngự, tôi quay ngoắt, bước nhanh về phía cửa. Viên cai ngục lật đật chạy theo.

– Ðưa tôi về xà lim!

Tôi ra lệnh cho anh ta.

Share... Share on FacebookTweet about this on TwitterShare on Google+Share on LinkedInEmail this to someonePrint this page

  1. Bản dập thử để sửa lỗi của nhà in. 

  2. Cuốn Năm Người Im Lặng vẫn được xuất bản trong năm 1968, khi tôi đã ở trong tù. Người quyết định cứ in cuốn sách này bất chấp thói thường thời ấy không dám in sách mang tên người bị bỏ tù là giám đốc Nhà xuất bản Văn Hóa, ông Lý Hải Châu. Trong kháng chiến chống Pháp Lý Hải Châu chỉ huy Ðội biệt động Sài Gòn – Gia Ðịnh, bị chính quyền chiếm đóng kết án tử hình, rồi giảm xuống chung thân và đầy ra Côn Ðảo. 

  3. Chỉ tổ chức Ðảng. 

  4. Cung văn là người chơi đàn tranh trong cuộc hầu đồng, trong dàn nhã nhạc lễ bái. Cung còn có nghĩa là ngôi nhà tráng lệ, cung điện. Cung văn đây được hiểu như nhà văn cung đình. 

  5. Bộ Nội Vụ trước khi đổi tên. 

  6. Cho tới năm 1965, Trường Chinh vẫn duyệt từng số báo ảnh, như khi tờ báo vừa ra đời dưới sự bảo trợ của ông, mặc dầu ông không có trách nhiệm đó. Sự đưa tổng bí thư duyệt báo trước khi ra không bị coi là kiểm duyệt, mà là để xin ý kiến. Cho tới nay ở Việt Nam, về mặt công khai, không có chế độ kiểm duyệt nhà nước. 

  7. Cách gọi tắt các chiến trường: B – miền Nam Việt Nam, C – Campuchia, D – Lào, E – Thái Lan. Tại những chiến trường này đều có mặt bộ đội Việt Nam. Tại Thái Lan, trong thời kỳ chiếm đóng Campuchea bộ đội Việt Nam chỉ vào sâu trong nội địa chừng hai chục cây số. 

  8. Nhà văn (sinh năm 1932) nổi tiếng với những tác phẩm Xung Ðột, Mùa Lạc, Cha Và Con Và… 

  9. Nguyên trưởng ty Công an Thanh Hóa trong kháng chiến chống Pháp. Ðiệp vụ do Hoàng Ðạo tổ chức kết thúc bằng việc đánh đắm thông báo hạm Amyot d’Inville tại vùng biển Thanh Hóa năm 1950. Một nữ điệp viên cảm tử tên là Nguyễn Thị Lộc trong vai vợ của lãnh tụ Ðại Việt Hoàng Ðạo đi nhờ tàu ra Hải Phòng đã mang một va li thuốc nổ lên thông báo hạm và cho nó nổ tung. Do không thỉnh thị Trung ương ông bị tổng bí thư Trường Chinh thi hành kỷ luật. Hoàng Ðạo có viết một hồi ký nhan đề Hà Nội – Huế – Sài Gòn – Ðà Lạt rất thú vị, tôi có được đọc bản thảo, nhưng hình như nó đã thất lạc. 

  10. Theo lời chứng của cha tôi. 

  11. Một loại trà gói rất phổ biến trong những năm ấy. Trà gói loại sang có Ba Ðình, nhưng cán bộ thích Hồng Ðào hơn vì nó vừa rẻ tiền lại vừa ngon. 

  12. Thuốc lá loại sang, trên nó chỉ có thuốc lá Thăng Long. Dưới Ðiện Biên bao bạc còn có Ðiện Biên bao thường, Tam Ðảo (bao bạc và bao thường), đứng hạng chót là Bông Lúa. Như vậy có nghĩa tôi được đối xử khá tốt lúc đầu để mua chuộc. 

  13. Năm 1965 uy tín của tổng thống suốt đời Sukarno (1901-1975) xuống tới mức thấp nhất kể từ Hội nghi Bandung 1955. Ðường lối thân Trung Quốc đã dẫn tới một cuộc tàn sát của phe hữu chống lại Ðảng cộng sản và các lực lượng cánh tả. Phe quân sự do tướng Suharto giành chính quyền về tay mình năm 1965, lật đổ Sukarno, chấm dứt thời kỳ hỗn loạn. Thời kỳ này ban lãnh đạo Việt Nam rất lúng túng trong quan hệ với chính quyền mới của Indonesia sau Sukarno. 

  14. Năm 1927 Ngô Ðức Trì học tại Trường Ðại học Phương Ðông cùng với Bùi Công Trừng, Nguyễn Thế Rục, Trần Phú, Bùi Lâm, Nguyễn Xích. Nhóm cộng sản Việt Nam đầu tiên được thành lập tại Moskva, trong phòng ngủ của Nguyễn Xích, gồm 5 người nói trên. Lê Hồng Phong còn đang học Trường hàng không ở Leningrad nên không có mặt (theo hồi ký Phải Sống Cho Ðời Sống của Bùi Công Trừng). 

  15. Tôi còn nhớ hồi Cách mạng Tháng Tám tù cũng gọi cán bộ công an bằng đồng chí.